nguồn: Việt Nam thư quán
An ta phạ bà pha, truật đà ta phạ, đạt ma ta phạ bà pha……!
x x x
Đinh mùi (1). Tháng chạp. Ngày Ât Dậu. Giờ dần.
Thần Tông (2) hoàng đế gà gật
trên kiệu vàng. Đôi chân ngắn cũn ủ trong cặp hài mũi cong như mũi
thuyền rồng, hai bên lườn hài gắn những hạt minh châu ánh biếc. Tua
vàng buông rủ đung đưa theo nhịp rập rình của những bờ vai lực lưỡng
mười sáu phu kiệu.
Hoàng đế ngái ngủ. Mười hai
tuổi, đang là Thái tử Dương Hoán, tiên đế Nhân Tông băng hà, ngài được
lập lên ngôi giữa lập loè đèn nến trước linh cữu. Dù đã được đem vào
cung nuôi dạy từ lúc còn là một đứa bé lên hai, nhưng Dương Hoán còn bỡ
ngỡ với hết thảy các phép tắc của một vị hoàng đế, lại càng chưa quen
với những chuyến đi xa phải dậy sớm với những nghi thức nặng nề thế
này. Ngài uể oải ngáp.
Âm ì như sóng biển bao phủ
quanh thân mình ngài ngự, trong tấm chăn hồng nhạt phớt vàng của vầng
dương đang bắt đầu ló rạng, tiếng tụng kinh gõ mõ của năm mươi sáu nhà
sư đi thành hàng đôi quanh kiệu vàng càng như ru vị hoàng đế nhỏ vào
giấc ngủ êm đềm.
Giai điệu âm u mịt mùng của lời
kinh cầu hồn vẫn đều đều quyện lấy kiệu vàng và đoàn tuỳ tùng dài như
vô tận. Kính cẩn nâng quyển kinh bằng lá bối, vị thượng toạ áo vàng
mình gầy guộc tiên phong đạo cốt dẫn đầu đoàn. Tiếp gót , bốn đại sư
phơ phất phướn trên tay. Các tăng quan và một chuỗi nhà sư khác theo
sau. Tay không ngơi lần tràng hạt, miệng họ ê a cất lên những câu kinh
như gió thoảng không bao giờ dứt.
...An ta phạ bà pha, truật đà ta phạ, đạt ma ta phạ bà pha... (3)
Sương sớm tan. Con đường nhuộm màu áo vàng cong lên lượn xuống uốn
theo những sườn đồi, dần dà hiện rõ mồn một. Dân chúng trong vùng nô
nức đổ ra xem, bất giác đồng thanh " Mô Phật ! ", lòng dậy lên niềm
sùng kính với đức từ bi.
Tại các cổng chùa ven đường cái
quan, sư trụ trì hối hả giục chú tiểu mang hương án phẩm vật ra dâng
đấng tân vương và các thượng tọa đạo cao đức trọng. Chốc chốc, đoàn xa
giá khựng lại vì có sư trụ trì một chùa nào đó ra dâng vật phẩm. Nhân
Tông hoàng đế lúc sinh thời thường ban thưởng hậu cho những kẻ đem dâng
những phẩm vật lạ báo điềm lành của đất nước. Thiên hạ biết vậy, nên
sinh thói đua tranh tìm kiếm vật hiếm quí để ra mắt tân vương.
Dương Hoán Thần Tông hoàng đế
tỉnh ngủ hẳn, mắt sáng rỡ khi thấy sư trụ trì chùa Phụng Từ quì trước
kiệu vàng, cúi đầu hai tay nâng mâm son dâng lên một con rùa nhỏ màu
hoàng yến, có đôi mắt to màu vàng sậm, trên ức rùa vân sừng nổi lên
hình hai chữ " Thiện đế " rõ như tay người viết bằng mực nho đen nhánh.
Dương Hoán ngước nhìn Trung
thừa Mâu Du Đô đang đứng chầu hầu liền bên, dò hỏi. Mâu Du Đô nhìn rõ
dấu tay người viết rất khéo trên mai con rùa nhưng lặng im giây lát,
chỉ nói : " Muôn tâu ! Thiện đế nghĩa là một bậc đế vương nhân hậu
khoan dung ! ". Nhà sư đảo nhanh mắt, nhìn quan Trung thừa vẻ hàm ơn
rồi khúm núm : " Muôn tâu hoàng đế, trong mỗi mắt của con rùa quý này có
tới sáu con ngươi. Đó là điềm triệu cực lành, báo trước sự thịnh vượng
của đại triều dưới sự chăn dân đức tân hoàng đế..." .
Thần Tông chưa hiểu hết những
lời của sư chùa Phụng Từ, nhưng lòng mừng khôn xiết, ghé sát vào mắt
chú rùa, cố tìm cho ra sáu con ngươi nhưng nhìn mãi cũng chỉ thấy có
hai con, trong khi các cận thần đều bảo là trông thấy quả thực có sáu
con ngươi, liền bảo thị vệ đặt rùa vào hộp vàng, trọng thưởng cho nhà
sư. Đoàn xa giá lại tiếp tục nhuộm sặc sỡ con đường lên Na Ngạn (4).
Trên cao, những vì sao cuối
cùng tắt hẳn. Tiếng chuông chùa Phổ Thiên đổ dài từng hồi, lanh lảnh
ngân nga, đệm nền cho giọng kinh cầu hồn. Aỏ não những cánh quạ bay là
là trên mấy đụn rơm nhả khói bếp nhà nông phu. Thoảng mùi cháy khét pha
vị ngọt sắt của khoai vùi quá lửa trong tro nóng.
x x x
.... Kính đức Đại bi Quán thế âm cho con mau lên thuyền Bát nhã
Kính đức Đại bi Quán thế âm cho con sớm vượt qua bể khổ
Kính đức Đại bi Quán thế âm cho con sớm lên cõi Niết Bàn
Kính đức Đại bi Quán thế âm cho con mau đến nhà vô vi...
Những câu kinh " Đại bi sám pháp " da diết phả vào tiếng chuông. Buổi
sáng không sương mù. Những vì sao vừa tắt thì muôn tia nắng vàng ngọt
sắt như lưỡi đòng thép xuyên xuống dòng người lầm bụi.
Đằng sau chuỗi người được che
phủ trong cờ xí quạt tàn võng lọng rực vàng đường lên Na Ngạn là mười
hai cộ gỗ. Mười hai thớt trâu đực sừng dài cong như nửa vành trăng, lớp
lông dọc sống lưng dựng cao và cứng xoắn như đám rễ tre gộc qua lửa ì
ạch kéo dẫy cộ ngật ngưỡng những phiến gỗ thông lớn phả mùi thơm ngát.
Ngất ngưởng trước đống gỗ thông trên chiếc cộ dẫn đầu được kéo bởi cặp
trâu trắng bốn chân lừng lững như chân voi là một vị quan trong bộ
trang phục áo tơi nón lá mục đồng tay cầm roi bằng nhánh hoa lau có tết
tua ngũ sắc luôn tay quật vun vút lên lưng trâu. Dãi trâu rỏ thành
dòng ướt mặt đường đồi đất đỏ. Những vệt cỏ chó đẻ hai bên đường bết
bụi cong rũ.
Để có được mười hai cộ gỗ thông
này, quan Thái bảo khu mật sứ Lý Trác đã đích thân giao cho tri phủ
Lạng Giang sai hai trăm tiều phu cơm đùm cơm nắm lên núi kén chọn từng
gốc thông gìa ngoài trăm tuổi. Những gốc thông mà lưỡi rựa thép chém
vào ứa ra dòng nhựa vàng quánh trong như hổ phách. Khi mang được gỗ về
thì những phiến gỗ thông đã nhuộm máu của ba mươi tư kẻ tiều phu xấu
số. Để ngăn cản oan hồn của những người tiều phu oán hận về đòi mạng,
gây bất an cho bản triều, quan Thái bảo đã theo cung cách dân gian,
buộc một dải khăn sô dài lê thê ngang sừng cặp trâu kéo chiếc cộ thứ
ba.
Đám rước khổng lồ nặng nhọc
chuyển đi. Khi tiếng chuông chùa vừa dứt, giàn nhạc cung đình réo rắt
tấu khúc bi ai. Não nuột tiếng kèn, tiếng thanh la não bạt chen giọng
thương khóc Đức Nhân Tông hoàng đế mới băng hà.
x x x
Dân chúng đổ ra hai bên đường ngóng xem đám rước mỗi lúc mỗi đông. Những
người đàn ông gầy guộc đóng khố cởi trần tóc búi tay cầm roi tre đang
cố sức giữ cho đám trẻ khỏi túa ra đường len lén hé mắt trộm ngắm mặt
rồng dưới mu bàn tay cáu bẩn che mặt. Đám dân đen tội nghiệp chỉ kịp
thấy trôi qua mắt họ một gương mặt trắng xanh nhỏ nhắn với đôi mắt xếch
sáng rực, ngưỡng thiên và cặp chân đung đưa tung tẩy như chân trẻ con
đang vầy nước. Chiếc mũ miện nặng nề nạm ngọc bích nổi bật trên những
tua vàng tua bạc buông rủ làm cặp lông mày trĩu xuống. Sức nặng của
vương miện dường như quá sức chịu đựng của sợi cổ mảnh khảnh.
Đi sau kiệu rồng chừng nửa dặm,
một chiếc xe khổng lồ sơn son thiếp vàng khảm những đoá mẫu đơn màu
đen tang tóc. Chiếc xe chầm chậm như nhẹ trôi trong không trung, được
kéo bởi những bước chân đều đặn của một trăm hai mươi nữ nô lệ người
Chân Lạp . Hai bầu vú trần đen sạm trĩu nặng. Từ đầu vú run rẩy rỏ xuống
những giọt mồ hôi đặc quánh dưới ánh mặt trời. Những nữ nô lệ này tuổi
chỉ vừa đôi tám, tóc vấn cao hình tháp quấn những chuỗi hoa đại trắng,
ngang lưng vấn xoắn váy màu vàng lơ lửng đến bụng chân. Cổ chân rám
nắng quấn những chuỗi vòng vỏ ốc nhiều màu. Tiếng vỏ ốc va nhau lách
cách như nhạc đệm theo mỗi bước đi. Mồ hôi loáng ướt lưng trần. Ngực tì
ngực lên những chiếc ách bằng gỗ lim đen nhẫy. Giàn nữ nô lệ đi như
một dẫy người câm không vui không buồn.
Trên xe, lồng lộng giữa trời là
bốn mươi chín cô gái cài vàng dát ngọc áo tía xiêm hồng đầu chít khăn
ngang. Những cung nữ của Hoàng đế Lý Nhân Tông vừa băng hà. Họ đang
trên đường tới đảo Âm Hồn, lên giàn thiêu. Khi ngọn lửa giàn thiêu bốc
lên, họ là những kẻ tôi đòi cưỡi khói để kíp kíp tới Niết bàn hầu hạ đức
tiên đế. Những người kế nghiệp có dạ trung quân không thể để đức vua
phải chịu cảnh phòng không gối chiếc quá lâu nơi Niết Bàn.
Thần Tông hoàng đế đã tỉnh ngủ
hẳn. Ngài lệnh cho kiệu rồng dừng lại, đợi cho chiếc xe chở các cung nữ
sắp bị thiêu diễu qua trước mặt. Vẻ đẹp rực rỡ của các nô lệ kéo xe
cùng các cung nữ khiến Thần Tông ngẩn người. Đức vua sực tỉnh, khi nghe
tiếng của Thái bảo Khu mật sứ Lý Trác lệnh cho quan thủ lễ:
- Lũ đao phủ đã tề tựu đủ chưa?
Quan thủ lễ khúm núm:
- Dạ bẩm ! Đã đủ .
- Liệu đây có phải là một lũ thỏ đế tái mặt run tay khi thấy lũ cung nữ bước vào lửa giàn thiêu?

