Đỗ Xá, Đại Bàng 800, Snoul
Ngoài ba trận đánh lớn cấp sư đoàn
và quân đoàn nêu trên, Tướng Hiếu còn đánh ba trận đánh cấp
trung đoàn đáng kể: Đỗ Xá năm 1964, Đại Bàng 800 năm 1967 và
Snoul năm 1971.
Trong cuộc hành quân Đỗ Xá,
với tên chính thức là Quyết Thắng 202, Tướng Hiếu, lúc đó
là Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, dưới quyền Tướng Đỗ Cao Trí,
đã táo bạo tung hai đạo quân gồm Chiến Đoàn A với ba Tiểu Đoàn
Biệt Động Quân dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Sơn Thương và Chiến
Đoàn B với các đơn vị của Trung Đoàn 50, thuộc Sư Đoàn 25, dưới quyền
chỉ huy của Thiếu Tá Phan Trọng Chinh vào mật khu bất khả xâm
phạm Đỗ Xá nằm tại giáp giới ba tỉnh Kontum, Quảng Ngãi và
Quảng Tín. Ngoài ra, hai toán quân này còn được tăng phái bởi Tiểu
Đoàn 5 Dù dưới quyền chỉ huy của Đại Úy Ngô Quang Trưởng.
Trong cuộc hành quân Đại Bàng 800,
Tướng Hiếu đã tinh anh dùng kế "điệu hổ ly sơn" dụ được một
trung đoàn thuộc Sư Đoàn 3 Sao Vàng xuất đầu lộ diện và nện
lên đầu một cú thoi sơn gây cho địch bị tổn thất nặng với xác
của 300 chiến binh bỏ lại trên chiến trường, sau khi các đơn
vị của Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ thất bại trong cuộc lùng kiếm
địch dòng dã ba ngày trời.
Trong cuộc hành quân triệt thoái Snoul,
Tướng Hiếu đã biểu dương tính khí của một chiến tướng giỏi
khi tấn cũng như khi thủ khi triệt thoái Trung Đoàn 8 thuộc Sư
Đoàn 5 khỏi thị trận Snoul dưới sự uy hiếp của hai Sư Đoàn 5
và 7 Bắc Việt. Cuộc triệt thoái trên đoạn đường 13 cây số từ
Snoul trên phần đất Căm Bốt về tới Lộc Ninh được coi là thành
công với tổn thất tương đối nhẹ. Trong cuộc rút quân này,
Tướng Hiếu đã ứng dụng 8 yếu tố bài bản của một chiến thuật lui binh.
Chân Dung của một Chiến Tướng
Một lý do chính khiến ít người
biết Tướng Hiếu là một chiến tướng là tính kín đáo, không
thích lòe loẹt phô trương chiến tích của mình. Tướng Hiếu núp
bóng sau Tướng Trí, Tướng Vĩnh Lộc và Tướng Thuần khi hoạch
định và thực hiện các trận đánh Đỗ Xá, Thần Phong 1, Pleime
và Đức Huệ/Svay Riêng.
Đại Tá John Hayes, Cố Vấn Trưởng Sư Đoàn 5, nhận xét:
"Ông cẩn trọng mực thước nhưng khi lấy quyết định thì sắc bén." Về
phương diện này, có lẽ Đại Tá Hayes là giới chức quân sự Mỹ
duy nhất hiểu rõ Tướng Hiếu, phần đông thì cho là Tướng Hiếu
nhút nhát rụt rè không xông xáo đủ. Chẳng hạn như Tướng Abrams phát biểu như sau về Tướng Hiếu, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 trong một buổi họp ngày 26 tháng 7 năm 1969:
Và, thật là bất hạnh, Sư Đoàn 22
QLVNCH không nhìn được sự thể như vậy. Sư Đoàn chưa phải là một sư đoàn
thiện chiến, xuất trận với cấp trung đoàn và tiểu đoàn và vân vân! Và
chính điều đó cần thiết phải được thực hiện tại Bình Định! Và đó chính
là điều Sư Đoàn 22 không nhìn thấy! Và đó chính là điều tư lệnh sư đoàn
tự thâm tâm không sẵn lòng chịu làm! Và điều mà tất cả mọi người cần
phải làm, thay vì bàn đến chuyện xuất trận và chiến đấu với—Trơì Đất
Quỷ Thần ơi, họ đứng dưới đó liếm đũa chờ cho Sư Đoàn 3 Bắc Quân trở
lại! Phải đấy, lẽ dĩ nhiên nếu Sư Đoàn 3 Bắc Quân trở lại thì họ đã rửa
sạch đồng hồ rồi. Nhưng đó là ngày họ trông chờ--khi Sư Đoàn 3 Bắc Quân
trở lại! Cục cứt! Có điều—không thể làm điều mà chưa được tổ chức,
điều mà chưa được huấn luyện. Phải đi ra ngoài làm điều phải làm ngay
bây giờ tại nước này! Tất cả mọi người làm phải như vậy!
Tướng McAuliffe, Cố Vấn Phó Vùng 2 Chiến Thuật, cũng lượng định sai lầm về Tướng Hiếu khi ông viết trong bản tường trình ngày 26 tháng 11 năm 1970:
Có hai phương thuốc khả dĩ chữa trị
cho căn bệnh của sư đoàn, cả hai đã được đề nghị cho Tướng Trí: (a)
thay thế tư lệnh sư đoàn, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, và trung đoàn
trưởng Trung Đoàn 8; ; (b) cho các đơn vị của sư đoàn tham gia thêm vào
các cuộc hành quân vượt biên, ngõ hầu nâng cao tinh thần và huấn
luyện các năng khiếu chiến đấu của các cấp chỉ huy đơn vị và binh sĩ
tham dự. (Tướng Trí đã đề nghị thay thế Tướng Hiếu, và xem cách cho Sư
Đoàn tham gia thêm vào các cuộc hành quân.)
Sai lầm, vì Tướng Trí, trái lại trọng dụng Tướng Hiếu nhất trong số ba Tư Lệnh Sư Đoàn 5, 18 và 25, theo ý kiến của Đại Tá Khuyến, Chỉ Huy Trưởng An Ninh Quân Đội Quân Đoàn III:
Khi tướng Trí về nắm chức Tư Lịnh
Quân Đoàn 3 thì tình cờ cả 3 vị Tư Lịnh Sư Đoàn của Quân Đoàn 3 đều
xuất thân từ Khóa 3 Đà Lạt. Thiếu Tướng Nguyễn Xuân Thịnh giữ chức Tư
Lịnh Sư Đoàn 25, Thiếu Tướng Hiếu, Sư Đoàn 5 và Thiếu Tướng Lâm Quang
Thơ, Sư Đoàn 18. Trong 3 vị Tư Lịnh vừa kể thì Tướng Trí tỏ vẻ trọng
dụng Tướng Hiếu nhứt vì Tướng Hiếu đã từng làm tham Mưu Trưởng cho
Tướng Trí trước kia ở Quân Đoàn 1 và Quân Đoàn 2 vào năm 1963.
Chắc hẳn là Tướng McAuliff không
biết là Tướng Trí có đề nghị Tổng Thống Thiệu cho Tướng
Hiếu thay thế mình trong chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III khi ông
được chỉ định thay Tướng Hoàn Xuân Lãm, Tư Lệnh Quân Đoàn I,
cứu vãn cuộc hành quân Lam Sơn 719. Nhưng rủi thay sự việc không
xảy đến vì Tướng Trí bị tử nạn trực thăng tháng 2 năm 1971.
Đến ngay cả Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18, cũng xét đoán lầm khí khái hiếu chiến của Tướng Hiếu qua điệu bộ nhỏ nhẹ:
anh Hiếu trông bề ngoài có vẻ quá hiền lành, khiến lính có thể không sợ, nên có thể không thích hợp với vai trò tác chiến.
Theo Dale Andrade nhận xét là các tướng VNCH thường tránh phiền hà nên chọn lựa thủ hơn là tấn:
Tướng Hưng không hèn nhát. Nhưng cũng
như các các sĩ quan cao cấp Việt Nam khác, ông không muốn phải lấy
những quyết định khó khăn. Nếu được ông thà ngồi đợi và ngó chừng, hy
vọng là tình trạng đen tối sẽ tự tan biến đi
Tuy nhiên Tướng Hiếu lại khác. Một
khi đã điều nghiên kỹ tình hình chiến trường và nắm vững
tình báo chính xác về địch, Tướng Hiếu không ngần ngại tấn
công vào sâu trong lòng xào huyệt địch, như trong cuộc hành quân
Đỗ Xá năm 1964, cuộc hành quân Thần Phong 7 năm 1965, cuộc hành
quân Snoul năm 1971 và cuộc hành quân Đức Huệ/Svay Riêng năm
1974.
Tướng Hiếu trở nên một chiến tướng nhờ tài tận dụng ba lợi khí: tình báo, thiết giáp và pháo binh.
Tướng Hiếu luôn nghiên cứu kỹ lưỡng
để nắm rõ tình hình địch bằng cách dùng các toán trinh sát
len lỏi vào lòng địch và khéo khai thác các tù binh và hàng
binh địch. Tướng Hiếu căn dặn
"các Trung Đoàn phải cải thiện các đơn vị Trinh Sát và Viễn Thám, phải
tận dụng các đơn vị này trong nhiệm vụ tìm và diệt địch. Trước hết phải
xâm nhập vào nội địa của địch để phát giác các căn cứ hoặc trạm giao
liên của địch" và "không những phải biết đích xác tung tích đơn vị
địch mà còn phải nắm vững lối đánh sở trường của tổ trưởng của đơn vị
đó (...) Vì vậy Đại Tá Hiếu luôn chỉ thị cho Phòng Nhì phải lấy được danh tánh cùng học hỏi được nhân cách tổ trưởng của đơn vị địch".