Lý do thứ năm hiếm có chiến
tướng tại chiến trường Việt Nam vì chưa có mấy sử gia đào sâu
nghiên cứu kỹ về các trận đánh lớn để rồi mô tả các động
thái của trận đánh với đầy đủ điều nghiên tình báo về ý đồ
địch, hoạch định kế hoạch tấn công hay phản công, vận chuyển
của guồng máy điều khiển và chỉ huy, thi hành các thế điều
quân, v.v... Chẳng hạn, trường hợp của cuộc đánh tái chiếm
Quảng Trị, có người cho là Tướng Lê Văn Thân, gốc pháo binh,
lúc đó là Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn I, mới là người có công
chứ không phải Tướng Ngô Quang Trưởng. Hay trường hợp trận đánh Kontum mùa hè Đỏ Lửa năm 1972,
Tướng Lý Tòng Bá thì cho là công lao của mình, nhưng Đại Tá
Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng Nhì Quân Đoàn II, thì lại cho là công
lao của Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn II. Do vậy
nếu đào sâu các tài liệu quân sự của các phe chiến đấu tại
Việt Nam - CSBV, VNCH, HK - chắc là có thể khám phá ra thêm một
số chiến tướng nữa. Quả thật vậy, qua quá trình nghiên cứu
hơn một chục năm, từ năm 1998, tôi đã tìm ra một chiến tướng mà
không mấy ai ngờ tới. Đó là Tướng Nguyễn Văn Hiếu.
Chiến Tướng Hiếu
Khi nói tới Tướng Hiếu
thường người ta nghĩ Tướng Hiếu chỉ là một tướng thanh liêm,
chứ không hề cho là một chiến tướng, thích cầm quân tấn công
địch, có tài đánh giặc với mưu trí, có biệt tài đem ra xử
dụng mọi loại quân chủng - thiết giáp, pháo binh, không quân -
và huy động mọi loại binh chủng không chỉ duy thiện chiến như
biệt động quân, dù, thủy quân lục chiến, biệt cách dù, lực
lượng đặc biệt mà còn binh chủng tầm thường như địa phương
quân và nghĩa quân.
Các chiến công Tướng Hiếu
lập nên trong ba trận đánh lớn Pleime, Thần Phong 1 và Đức
Huệ/Svay Riêng đủ để liệt Tướng Hiếu vào hàng chiến tướng.
Pleime
Trận Pleime - hay trận
Iadrang (đúng hơn trận Chu Prong) trong ba trận
Pleime-ChuProng-Iadrang nằm trong chiến dịch Pleime - được phía
Cộng Sản Bắc Việt và phía Hoa Kỳ coi là trận đánh lớn cấp
sư đoàn đầu tiên giữa lực lượng của đôi bên; phía CSBV có các
Trung Đoàn 32, 33 và 66, phía HK có các Lữ Đoàn 1, 2,và 3 Không
Kỵ. Nhưng ít ai đề cập tới vai trò chính - cách chung - của
Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II/VNCH - và cách riêng - của Đại Tá
Hiếu,Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, trong toàn bộ chiến dịch
này. Điểm này đã được luận tới cách thấu đáo trong loạt bài
sau đây:
Hai Tay Cờ Chính Trong Ván Cờ Pleime
Các Thế Chiến Thuật Trong Trận Pleime
Nhật Ký Trận Pleime
Duyệt Trình Cuốn Sách "Why Pleime"
Chiến Dịch Pleime và Chiến Dịch Pleiku
Tài Điều Binh Khiển Tướng Trong Chiến Dịch Pleime
Vài Điều Cần Nên Biết Về Trận Đánh Pleime-Iadrang
Những Điều Các Quân Sử Gia Không Lên Tiếng Liên Quan Đến Trận Đánh Tại Bãi Đáp X-Ray
Đặc điểm của Đại Tá Hiếu
trong việc điều quân trong chiến dịch Pleime là dùng đến tài
mưu trí hơn địch và tài khéo dụng binh khiển tướng, kể cả
các tướng lãnh Mỹ.
Đại Tá Hiếu đã chẩn đoán
nhanh chóng tình hình chiến trận và đoán biết được mọi mưu
kế của địch đồng thời hóa giải được tất cả với phương tiện
eo hẹp sẵn có trong tay, từ việc thắng vượt giai đoạn đánh
đồn đả viện và phục kích vận động chiến với Chiến Đoàn Đặc
Nhiệm 3 Thiết Giáp, đến giai đoạn truy kích và đập tan địch
đến tận cùng xào huyệt thâm sâu với Lữ Đoàn Dù .
Đại Tá Hiếu cũng biết dựa
vào ưu thế về mặt nắm vững tình báo cách chính xác và tỉ
mỉ liên quan đến vị trí và tình trạng của tất cả các đơn vị
địch, từ chỉ huy đến tác chiến, để thuyết phục xui khiến
cấp chỉ huy Mỹ làm theo ý kiến mình về mặt khái niệm hành
quân và thời khóa biểu điều quân, cách khéo léo và kín đáo
đến độ từ ngoài nhìn vào chiến trận, ai cũng tưởng và ngay
cả các cấp chỉ huy tham chiến Mỹ cũng tưởng là Quân Đội Mỹ
đơn phương chủ động trong trận Iadrang (đúng hơn trận Chu Prong).
Ngoài ra, Đại Tá Hiếu cũng
chứng tỏ tài khiển dụng mọi loại chiến cụ hiện đại của
QLHK như trực thăng vũ trang và phóng pháo cơ B52 và tuần tự
điều động hàng loạt chiến binh thuộc đủ loại binh chủng Việt
Mỹ: biệt cách dù, lực lượng đặc biệt, dân sự chiến đấu, bộ
binh, biệt động quân, thủy quân lục chiến, không kỵ, thiết
giáp, pháo binh, không quân.
Thêm nữa, Đại Tá Hiếu còn biểu dương tài biến hóa đủ
loại chiến thuật tấn thủ: bao bọc, chống phục kích, giải
tỏa, truy đuổi, phục kích, khai thác, tấn công và tiêu diệt.
Thần Phong 1
Hai tháng trước chiến dịch
Pleime, Đại Tá Hiếu đã tỏ ra khí khái chiến tướng trong Hành
Quân Thần Phong 1. Cuộc hành quân này được tường thuật trong
bài Hành Quân Khai Lộ.
Đặc điểm của Đại Tá Hiếu
trong cuộc hành quân này là dùng "một kế hoạch dương đông kich
tây qui mô" chuẩn bị cho cuộc hành quân khai lộ với Sư Đoàn 22,
Thiết Đoàn 3, Chiến Đoàn 2 Dù, các Lực Lượng Địa Phương Quân, Nhóm
Dân Sự Chiến Đấu, Chiến Đoàn Alpha TQLC,Trung Đoàn 42 và Nhóm 20 Công
Binh Chiến Đấu, đồng loạt tấn công tứ phía dọc theo "Quốc Lộc 1
từ Qui Nhơn tới Tuy Hòa", "Quốc Lộ 14", và "Liên Tỉnh Lộ 7 từ Phú Bổn
tới Tuy Hòa " cùng tại "Quận Lệ Thanh" và tại "Lệ Bắc", khiến
cho các đơn vị địch bị ghim xuống tại chỗ không thể xê dịch
để mà thiết lập các ổ phục kích, do đó "điểm chính yếu của
khái niệm hành quân là ngăn ngừa và chận đứng trước các cuộc phục kích
hơn là can thiệp để triệt hủy và chống lại các ổ phục kích với các lực
lượng tiếp cứu".
Đức Huệ/Svay Riêng
Mặt trận Đức Huệ/Svay Riêng
là trận đánh lớn nhất sau cùng của QLVNCH xảy ra vào cuối
tháng 4 năm 1974. Trận này được Đại Tá Legro, trưởng phòng
tình báo DAO Mỹ mô tả cặn kẽ.
Tướng Hiếu lúc đó là Tư Lệnh Phó Hành Quân/Quân Đoàn III, đã
huy động một lực lượng cấp quân đoàn nhằm giải tòa áp lực
nặng của Sư Đoàn 5 Bắc Việt đặt vào trại Đức Huệ với 20
tiểu đoàn di động bao quanh vùng Mỏ Vẹt, rồi tấn công vượt
biên sâu 16 cây số vào vùng Svay Riêng với ba chiến đoàn: Chiến
Đoàn 315 gồm Thiết Đoàn 15 Kỵ Binh, Tiểu Đoàn 64 BĐQ, và một thiết đội
chiến xa hạng trung dùng làm lực lượng xung kích; Chiến Đoàn 318, bao
gồm Thiết Đoàn 17 Kỵ Binh, một tiểu đoàn BĐQ, một thiết đội chiến xa;
Chiến Đoàn 310, bao gồm một tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 18 và một tiểu đoàn
thuộc Sư Đoàn 25 và Nhóm 3, Thiết Kỵ 10. Ngoài ra cuộc hành quân
còn được yểm trợ bởi hai tiểu đoàn của Quân Đoàn IV cùng
pháo binh và Không Lực Việt Nam. Đặc điểm của trận đánh này
là vận dụng tối đa yếu tố vận tốc, bí mật, và phối trí của một hành
quân đa diện.