Chiến Tướng, Một Tinh Anh Hiếm Có Trong Chiến Tranh Việt Nam
Để trả lời cho ai hỏi những ai là tướng giỏi trong Quân Đội Nhân Dân Cộng Sản Bắc Việt, Bùi Tín đưa ra những tên sau đây: Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Trà, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Nguyễn Hữu An, Hoàng Minh Thảo.
Ngoài ra, Lê Trọng Tấn được gọi là Tướng đánh trận giỏi nhất Việt Nam"; Nguyễn Hữu An, vị tướng trận mạc.
Trong QLVNCH, trong số trên 160 tướng lãnh,
những tướng thường được coi là giỏi gồm có: Đỗ Cao Trí,
Nguyễn Viết Thanh, Ngô Quang Trưởng, Lê Văn Hưng, Lý Tòng Bá, Lê
Minh Đảo.
Ngoài ra, Đỗ Cao Trí được
Tướng Wesmoreland gọi là "Patton Việt Nam"; Đỗ Cao Trí và
Nguyễn Viết Thanh được giới quân sự và báo chí Mỹ cho là hai chiến tướng kiệt xuất - outstanding fighting generals (David Fulghum, Terrence Mailand,
South Vietnam on Trial - The Vietnam Experience, Boston Publishing
Company); và Ngô Quang Trưởng được Tướng Schwarzkopf cho là một Trung Đoàn Trưởng Kiệt Xuất trong khi Đại Tá James H. Willbanks gọi Tướng Trưởng là Vị Tư Lệnh Sáng Chói Nhất.
Còn đối với QLHK thì các tướng lãnh được nhắc tới là các Tướng Westmoreland, Abrams, Kinnard, Weyland.
Nhưng nếu định nghĩa chiến
tướng là một tướng lãnh cầm quân và đánh giặc cấp sư đoàn
trở lên và đánh thắng vài ba trận, không hẳn với quân số đông
hơn mà là với mưu trí hơn địch, thì quả là khó mà liệt kê ai
trong số các tướng lãnh nêu trên thuộc hạng chiến tướng.
Người ta cố gượng gạo tạo
lên hình chiến tướng bằng cách gán những danh xưng nghe kêu
thật to, như "tướng của các chiến trường nóng bỏng", "vị
tướng trận mạc", "tướng đánh giặc giỏi nhất Việt Nam", "vị
tướng tài ba lỗi lạc của Việt Nam và thế giới", "tướng Nã
Pha Luân Việt Nam", "tướng Patton Việt Nam", "tướng Zhukov Việt
Nam", nhưng khi kê mắt vào nhìn thì thấy thùng trống rỗng, hay
le que vài trận nhỏ, như trong trường hợp Tướng Lê Trọng Tấn
với các trận "Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng-Dầu Tiếng... Đường 9 Nam
Lào, mặt trận Trị Thiên hè 72; Mậu Thân 1968, tư lệnh cánh quân duyên
hải phía Đông"!
Sao lại hiếm chiến tướng
vậy? Thật ra thì có nhiều lý do. Lý do thứ nhất là vì phía
quân đội xâm lăng - Cộng Sản Bắc Việt - lựa chọn đánh du kích
ở mức tiểu đoàn trở xuống và chỉ tập trung quân đánh lớn
tương đối ít bận như Pleime-Iadrang năm 1965 (Chu Huy Mân - Vĩnh
Lộc - Kinnard), Khe Sanh năm 1968 (Cushman - Westmoreland - Võ Nguyên
Giáp), Đắc Tô-Kontum năm 1972 (Lý Tòng Bá - Hoàng Minh Thảo),
Quảng Trị năm 1972 (Ngô Quang Trưởng), An Lộc năm 1972 (Lê Văn
Hưng). Còn phía quân đội tự vệ - Việt Nam Cộng Hòa - có ít
dịp tấn công lớn trong đó phía CSBV buộc phải giao tranh như
mặt trận Toàn Thắng Căm Bốt năm 1971 (Đỗ Cao Trí - Nguyễn Viết
Thanh), mặt trận Lam Sơn 719 Hạ Lào năm 1971 (Hoàng Xuân Lãm),
mặt trận Đức Huệ năm 1974 (Phạm Quốc Thuần). Đến khi phía
Cộng Sản Bắc Việt khởi công đánh lớn năm 1975 thì phía Việt
Nam Cộng Hòa lại chọn rút lui chiến thuật khỏi Quân Đoàn II
rồi Quân Đoàn I, thành thử chỉ xảy ra trận đánh lớn sau cùng
tại Xuân Lộc tháng 4 năm 1975 (Lê Minh Đảo - Hoàng Cầm). Coi như
vậy là không có mấy vị tướng lãnh có cơ hội đánh hơn là một
trận lớn để thiên hạ chiêm ngưỡng thấy nét chiến tướng của
mình.
Lý do thứ hai là vì địa
hình tại Nam Việt Nam eo hẹp không cho phép điều động một lúc
trọn cả một sư đoàn gồm có ba trung đoàn cùng với hai tiểu
đoàn thiết giáp và pháo binh và đơn vị Công binh. Tướng Vĩnh
Lộc viết:
Địa thế và vị trí của nước ta
trong phương vị hành quân tìm địch để tảo thanh không tạo được cơ hội
để dàn trận một lúc đồng thời cả ba Trung Đoàn cùng các đơn vị yểm trợ.
Xét lại từ khi thành lập Sư Đoàn cho đến ngày thất thủ Vùng Cao
Nguyên, chưa thấy Khu Chiến Thuật nào hành quân sử dụng toàn thể sư
đoàn, nghĩa là cả 3 Trung Đoàn Bộ Binh, Tiểu Đoàn Pháo Binh, Công Binh
và Thiết Giáp v.v. Dù muốn cũng không có môi trường để dàn ra cả Sư
Đoàn nếu không muốn nói đến hiếm hoi sĩ quan chỉ huy được huấn luyện
nghiêm túc điều khiển Đại đơn vị. (Thư Gửi người Bạn Mỹ, trang 71)
Nhiều khi, khi đọc thấy
trong một trận đánh, hai phe tung vào mỗi bên hai ba sư đoàn,
người ta ngỡ là đúng y như vậy, nhưng nhìn kỹ ra thì mới hay
là chỉ có một vài đơn vị của mỗi sư đoàn sung trận cùng một
lúc mà thôi.
Trong đoạn trích dẫn trên,
Tướng Vĩnh Lộc cũng nêu lên lý do sao ít có chiến tướng trong
QLVNCH: "hiếm hoi sĩ quan chỉ huy được huấn luyện nghiêm túc
điều khiển Đại Đơn vị." Xin xem Tướng Lãnh QLVNCH Tốt Nghiệp USACGSC
Điều này cũng đúng đối
với giới tướng lãnh Quân Đội CSBV, điển hình là trường hợp
của Tướng Nguyễn Hữu An. Ông kể trong hồi ức "Chiến Trường
Mới" là hai lần đi học quân sự cao cấp hụt; lần đầu năm 1963
sắp sửa đi Nga học thì bị hủy để "đi chiến trường Hạ Lào";
và lần thứ hai năm 1964, sẵn sàng đi Tàu học thì bị giữ lại
cho làm tư lệnh Sư Đoàn 325 "đi đánh nhau" trong Nam tại vùng Tây
Nguyên. Do đó, QĐNDVN coi bộ cũng nằm trong tình trạng "hiếm
hoi sĩ quan chỉ huy được huấn luyện nghiêm túc điều khiển Đại
Đơn vị." Ngoài ra, trong Quân Đội CSBV còn có một điểm yếu là
số đông tướng lãnh xuất thân từ lớp nông dân và có trình độ
văn hóa thấp - như Tướng Nguyễn Chí Thanh "xuất thân cố nông, văn
hóa thấp", Tướng Đoàn Khuê "mới học đến lớp hai trung học thời Pháp"
hay Tướng Lê Quang Hòa "văn hóa mới qua trường văn hóa Lạng Sơn học
tắt, chưa đậu lớp 7, xuất thân từ nông dân" (Bùi Tín).
Riêng đối với Quân Lực Hoa
Kỳ, ngoài Tướng Westmoreland cầm quân 4 năm (6/1964-6/1968) và
Tướng Abrams cầm quân 4 năm (6/1968-6/1972), các tướng lãnh Mỹ
khác chỉ được luân phiên làm tư lệnh một sư đoàn có một năm.
Mất 3 tháng đầu mần mò làm quen với công việc mới và mất 3
tháng cuối bận bịu với công tác chuyển giao. Thành ra các
tướng lãnh Mỹ không có đủ thời giờ để hoạch định kế hoạch
và thi thố tài năng đánh lớn, ngoài yếu tố phía Việt Cộng
né tránh đụng độ lớn với quân Mỹ.
Lẽ ra thì QĐNDVN phải có
nhiều chiến tướng vì họ thủ vai tấn công, có lợi điểm lựa
chọn thời điểm và không gian chiến trường. Vậy mà trên thực
tế, họ không có được một tướng lãnh xứng danh là một chiến
tướng đúng theo như đã định nghĩa, kể cả Tướng Võ Nguyên Giáp.
Trong "thời kỳ chống Mỹ", ông đã không tạo được một chiến
công nào cả; cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 là một
thất bại ê chề. Còn trong "thời kỳ chống Pháp", huyền thoại
chiến tướng của ông, nhất là trong trận Điện Biên Phủ, đã bị
tan thành mây khói, khi các tài liệu mật của Trung Quốc
được bạch hóa đã phát hiện cho thấy là tất cả những chiến
công đánh Pháp của Tướng Võ Nguyên Giáp là do công lao của các
Cố Vấn Tàu, đặc biệt là La Quý Ba, Trần Canh và Vi Quốc
Thanh. (Ghi chép thực về việc Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc
viện trợ Việt Nam chống Pháp - Hồi ký của những người trong cuộc. Nhà
xuất bản Lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bắc Kinh, 2002). Sau
khi các cố vấn Trung Cộng rút về nước thì Võ Nguyên Giáp
chẳng tạo được một chiến tích nào khi đánh Mỹ và Nam Việt,
mà toàn là thua (Pleime, Khe Sanh, Tết Mậu Thân 1968, v.v...)
Lý do thứ ba hiếm chiến
tướng là yếu tố chính trị. Đối với các tướng lãnh Mỹ thì
bị giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Nam Việt Nam, không được
phép truy đuổi địch qua mật khu bên lãnh thổ Căm Bốt và Lào;
khi Tổng Thống Nixon cho phép quân Mỹ hành quân sang lãnh thổ Căm
Bốt tháng 4 - tháng 7 năm 1970, thì các đơn vị chiến đấu Mỹ
chỉ được tiến sâu không quá 30 miles. Đối với các tướng lãnh
VNCH thì chính sách Mỹ chỉ cho phép đánh tự vệ chứ không
khuyến khích tấn công vì quân đội chỉ được trang bị với súng
ống tự vệ (không có trực thăng vũ trang Cobra, chẳng hạn) và
lỗi thời từ Đệ Nhị Thế Chiến; lại nữa thường được cung cấp
cách trì trệ súng mạnh tương xứng với súng ống quân lính
Việt Cộng, chẳng hạn súng M16 lâu sau súng AK47.
Lý do thứ bốn là yếu tố bè phái. Năm 1970, Allan Goldman lập
một bảng danh sách phân loại tướng lãnh theo phe ông Thiệu hay
phe ông Kỳ. Khi chọn tướng lãnh nắm giữ sư đoàn và quân đoàn,
Tổng Thống Thiệu không nhắm người có tài năng quân sự mà nhắm
trước hết người có "lòng trung thành" với mình và sẽ không
có tham vọng đảo chánh. Chẳng vậy mà ông duy trì Tướng Cao Văn
Viên liên tục ở chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng từ năm 1965 đến
năm 1975; và trong số các tư lệnh sư đoàn và quân đoàn, tỉ lệ
số sĩ quan đã qua Mỹ thụ huấn khóa chỉ huy cao cấp
ít hơn số đã không học qua USCGSC (9/25). Thêm nữa, Tướng Đỗ
Cao Trí một thời gian đã bị cho đi làm đại sứ Đại Hàn
(1965-1969) và Tướng Nguyễn Văn Hiếu làm phụ tá đặc biệt chống
tham nhũng dưới quyền Phó Tổng Thống Trần Văn Hương (tháng
2/1972-tháng 12/1973).