Thiên tài quân sự hay Thiên tài quân sự Việt Nam có hai ý nghĩa khác nhau.
1/ Thiên tài quân sự người có khả năng điều binh khiển tướng trời cho của thế giới.
2/ Thiên tài quân sự Việt Nam người có khả năng điều binh khiển tướng trời cho của Việt Nam cũng như của thế giới.
Thiên Tài Quân Sự hay Kỳ Tài
Quân Sự là vị Tướng có tài dụng binh như thần, có mưu lược sâu
xa, có trí tuệ phán đoán tình hình đúng thời đúng lúc hơn nữa còn
có tình thương (tức lòng NHÂN) với binh lính dưới quyền. Vị Tướng
đó biết chăm sóc đời sống cho lính, không xem binh lính dưới
quyền là nấc thang để bản thân leo lên địa vị tối cao, mà xem họ
như những người thân trong gia đình, biết quý trọng xương máu binh
lính, biết tìm cách bảo vệ tối đa sinh mạng binh sĩ mà vẫn tạo
nên những chiến thắng lẫy lừng để lại tiếng thơm cho mai sau. Hơn
nữa người cầm quân ngoài mặt trận phải là người có tinh thần dân
tộc cao độ, chỉ một lòng vì tổ quốc và dân tộc chiến đấu chứ
không vì bất kỳ tổ chức hay đảng phái nào.
Có được Đạo của người làm
tướng, cũng như khả năng điều quân trời cho mới thực sự là Thiên
Tài Quân Sự thật sự và cũng là Thiên tài Quân Sự Việt Nam.
Cho nên mới có câu
Nhất tướng công thành vạn cốt khô
Không cần nhiều cốt khô, nhưng vẫn công được thành, ấy chính là Thiên Tài Quân Sự.
- Định nghĩa của Tự Điển Hán Việt của Đào Duy Anh trang 160 và 468 là,
Thiên tài: tài năng trời sinh
Quân sự: việc binh
- Việt Nam Tự Điển quyển hạ
(trang 1565 và 1200) của các tác giả Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ
cùng một nhóm văn hữu soạn ghi rằng:
Thiên tài: Tài năng trời cho,
không phải học hỏi hay tập-rèn nhiều mà vẫn giỏi hơn người: Đó là
một thiên-tài của đất nước.
Quân sự: Việc quân, việc đánh giặc.
Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm
thành Thăng-Long cũng như ngày giỗ lần thứ 35 Trung tướng Nguyễn
Văn Hiếu nguyên Tư lịnh phó Quân đoàn III quân khu III - Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa - bị ám sát ngày 8 tháng 04 năm 1975, Nhóm
Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử tôn xưng
Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam (nghĩa là bốn bậc tướng lãnh lớn
của Việt Nam có tài điều binh khiển tướng của trời cho và ngàn
năm trước ngàn năm sau ghi nhận 4 vị nêu dưới đây là nổi bật nhất):

1/ Đức Vua Trần Nhân Tông
(1258-1308) Hoàng Đế Đại Việt.
Hai lần thống lãnh quân dân Đại Việt phá tan quân Mông-cổ xâm
lược 1285-1288; Người sáng lập thiền phái Trúc L âm Yên Tử, một
dòng thiền hoàn toàn của Đại Việt. Ngài được người đời sau tôn
xưng là Phật Hoàng Trần Nhân Tông.
Ngài có để lại cho đời sau các tác phẩm văn học như:
Chữ Tàu:
- Tăng Già Toái Sự.
- Thạch Thất Mị Ngữ.
- Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục.
- Trúc Lâm Hậu Lục.
- Ðại Hương Hải Ấn Thi Tập.
Chữ Việt (Nôm)
- Cư Trần Lạc Ðạo Phú.
- Ðắc Thú Lâm Tuyền Thành Ðạo Ca.
2/ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ( 興道大王陳國峻, 1232? - 1300)
là danh tướng thời nhà Trần, có công lớn ba lần phá tan quân Nguyên xâm lược 1257, 1285, 1288.
Được phong Quốc công, tiết chế thống lĩnh tất cả các sắc quân tháng 10 năm 1283.
Là tác giả của bài Hịch Tướng Sĩ, bộ Binh Thư Yếu
Lược (hay Binh Gia Diệu Lý Yếu Lược) và Vạn Kiếp Tông Bí Truyền
Thư (đã thất lạc). Ngài được dân Việt tôn sùng như bậc thánh, nên
gọi là Đức Thánh Trần. Ngài còn được tín ngưỡng là một trong
những vị thánh của dòng Đạo Nội là một Đạo giáo dân tộc.
Trong dân gian có câu
Tháng tám giỗ cha
Tháng ba giỗ mẹ.
Cha đây là Đức thánh Trần Hưng Đạo Đại vương, còn Mẹ là Tiên chúa Liễu Hạnh
Dưới đây là phần trích trang nhà britannica.com có ghi về Hưng Ðạo Vương.
http://www.britannica.com/EBchecked/topic/602242/Tran-Hung-Dao
Tran Hung Dao born 1229? died
1300, Van Kiep, Vietnam original name Tran Quoc Tuan, also called
Hung Dao Vuong figure of almost legendary proportions in Vietnamese
history, a brilliant military strategist who defeated two Mongol
invasions and became a cultural hero among modern Vietnamese.
By the early 1280s the
Vietnamese kingdom faced a growing threat from the Mongols under
Kublai Khan, who had conquered China in the previous decade. When
he was appointed…
Trang nationmaster.com Úc Đại
Lợi đã ghi nhận Đức Hưng Đạo Vương là một tướng lãnh tài ba đã
chiến thắng quân Mông-cổ vào thế kỷ thứ 13.
http://www.nationmaster.com/encyclopedia/Tran-Hung-Dao
"Trần Hưng Đạo (陳興道)
(1228-1300) was a Vietnamese Grand Commander-in-Chief during the
Trần Dynasty. Born as Trần Quốc Tuấn (陳國峻), he commanded the Đại
Việt (Dai Viet) armies that repelled two major Mongol invasions in
the 13th century. His multiple victories over the mighty Mongol
Yuan Dynasty under Kublai Khan are considered among the greatest
military feats in world history. General Trần Hưng Đạo's military
brilliance and prowess is reflected in his many treatises on
warfare and is a one of the most accomplished general in history.
He's one of a very few generals in history to have never lost a
single battle or war under his command"
3/ Quang Trung Hoàng Đế Nguyễn Huệ
Nguyễn Huệ (阮惠; 1753 – 1792), còn được biết đến là Quang Trung Hoàng đế (光中皇帝), vua Quang Trung hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn (ở ngôi từ 1788 tới 1792) sau Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Ông là một trong những lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, quân sự xuất sắc trong lịch sử
Việt Nam với những trận đánh trong nội chiến và chống ngoại xâm
chưa thất bại lần nào. Do có nhiều công lao, Nguyễn Huệ cũng được
xem là người anh hùng áo vải của tộc Việt.
Nguyễn Huệ và hai người anh em của ông, được biết đến với tên gọi Anh em Tây Sơn, là những lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài giữa họ Trịnh ở phía Bắc và họ Nguyễn ở phía Nam, cũng như chấm dứt nhà Hậu Lê. Ngoài ra, Nguyễn Huệ còn là người đánh bại các cuộc xâm lược Đại Việt của Xiêm La từ phía Nam, của Đại Thanh (Trung Quốc) từ phía Bắc; đồng thời còn là người đề ra nhiều kế hoạch cải cách tiến bộ xây dựng Đại Việt.
Sau khi phá tan 20 vạn quân
nhà Thanh, Quang Trung Hoàng Đế sắp xếp kế hoạch Bắc tiến lấy lại
hai vùng đất Quảng Đông và Quảng Tây của Việt Nam; cũng như Nam
chinh để tiêu diệt Nguyễn Ánh.
Nhưng cả hai kế hoạch đều không thực hiện được.
Sau 20 năm liên tục chinh chiến và trị quốc, Nguyễn Huệ lâm bệnh và đột ngột qua đời ở tuổi 40. Sau khi ngài băng hà, nhà Tây Sơn
suy yếu nhanh chóng. Những người kế thừa của Nguyễn Huệ không thể
tiếp tục những kế hoạch ông đã đề ra để cai trị nước Đại Việt, lâm
vào mâu thuẫn nội bộ và thất bại trong việc tiếp tục chống lại
kẻ thù của Tây Sơn. Diệt Tây Sơn, nhà Nguyễn đã thừa hưởng được
những thành quả của phong trào Tây Sơn - với đóng góp to lớn của
Nguyễn Huệ - trong việc thống nhất đất nước.
Những cải cách lớn lao của Quang Trung Hoàng Đế :
A/ Thu hút nhân tài:
Trong Chiếu cầu hiền có đoạn:
"Trẫm đang ghé chiếu lắng
nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng
thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? hay đang thời
đổ nát chưa thể ra phụng sự?... Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày
hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh Ngẫm cho kỹ: cái nhà
to lớn - sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình -
sức một người không thể đảm đương".
Các cựu thần nhà Lê trước đây, tiêu biểu là các tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch... đã ra giúp nhà Tây Sơn. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp sau nhiều lần thoái thác, cuối cùng cũng nhận lời xuống núi giúp vua Quang Trung.
B/ Giáo dục:
Quang Trung bỏ Hán ngữ như là ngôn ngữ chính thức trong các văn bản của quốc gia. Ngôn ngữ chính thức được sử dụng là tiếng Việt và được viết trong các văn kiện hành chính bằng hệ thống chữ Nôm.[56]
Quang Trung quy định các bài hịch, chiếu chỉ phải soạn bằng chữ Nôm; đề
thi viết bằng chữ Nôm, và các sĩ tử phải làm bài bằng chữ Nôm.
Ngài còn chủ trương thay toàn bộ sách học chữ Hán sang chữ Nôm nên
năm 1791 đã cho lập “Sùng chính viện” để dịch kinh sách từ Hán
sang Nôm.[56]
Theo sách Tây Sơn lược thuật, ông chọn một quan văn “5 ngày một lần vào cấm cung để giảng giải kinh sách”.[56] Ngoài ra, vua Quang Trung quan tâm đưa việc học đến tận thôn xã. Trong “Chiếu lập học” ông lệnh cho các xã::[56]“Phải chọn Nho sĩ bản địa có học thức, có hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò”.
C/ Tôn giáo:
Quang Trung có một chính sách
tôn giáo rất tự do và rộng rãi: dù là người đề cao Nho giáo nhưng
ông vẫn bảo đảm hoạt động cho các tôn giáo khác như Phật giáo và
các tín ngưỡng khác. Về Thiên Chúa giáo, các giáo sĩ tự do hoạt
động, truyền đạo, xây dựng nhà thờ. Nhưng đồng thời ông cũng thi
hành chính sách bài trừ mê tín dị đoan rất mạnh, chấn chỉnh lại
việc tu hành: nhiều chùa ở các làng có mà người tu hành lạm dụng
để truyền bá mê tín dị đoan bị đập bỏ để xây duy nhất một ngôi
chùa ở huyện cấp trên, đồng thời những người tu hành không đạo
đức, những kẻ lưu manh, lười biếng đều phải hoàn tục.
4/ Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu
Nguyên Thiếu tướng tư lịnh phó
Quân đoàn III - Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - sau khi bị ám sát
chết ngày 08/04/1975 tại văn phòng Tư lịnh phó Quân đoàn,
10/4/1975 ông được vinh thăng Trung Tướng.
Thân phụ của Tướng Hiếu là
ông Nguyễn Văn Hướng sinh ngày 26/9/1903 và Tướng Nguyễn Văn Hiếu
sinh ngày 23/6/1929 tại Thiên Tân, Trung Hoa!
Đến tháng 5 năm 1949, Tướng
Hiếu hồi hương cùng thân phụ và theo học Khóa 3 (khóa Trần Hưng
Đạo) trường Võ Bị Liên Quân Đà-Lạt và mãn khóa ngày 1/7/1951.
Ông thông thạo nhiều sinh ngữ quan trọng như Anh, Pháp, Đức và Quan Thoại.
Sau khi tốt nghiệp, được cử về phục vụ tại Phòng 3 Tổng Tham Mưu, Chợ Quán.
Ngày 15/8/1957 với cấp bậc Thiếu Tá, ra làm Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn 1 Bộ Binh ở Huế.
Đi học Khóa Chỉ Huy và Tham mưu Cao cấp ở Ft Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ, và tốt nghiệp ngày 10/5/1963.
1/6/1963 được thăng Trung Tá và làm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 1 dưới quyền của Đại Tá Nguyễn Cao Trí.
- Sĩ Quan Tham Mưu (7/1953-
Đại tá Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn I 11/11/1963; 12/1963-09/1964;
Tham Mưu Trưởng quân đoàn II 24/10/1964-06/1966)
- Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh (11/1963-12/1963)
- 1/11/1967 được thăng Chuẩn Tướng và ngày 1.11.1968 được thăng Thiếu Tướng.
- Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh (07/9/1964-10/1964; 23/6/1966-8/1969)
- Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh (14/8/1969-6/1971)
Ông là một trong những vị
Tướng được thăng cấp cao trong quân đội là nhờ tài năng tham mưu
thiên phú từ cấp cơ bản và từ đơn vị nhỏ đi dần lên.
Tướng Hiếu còn một khả năng
thiên phú quân sự khác đó là phối hợp bộ binh thiết giáp. Phương
thức phối hợp không thua gì tướng George S. Patton của Quân đội Hoa
Kỳ trong thế chiến thứ hai.
Là người có cuộc sống đơn
giản thanh bạch, không khoa trương ồn ào, điềm tĩnh và khiêm nhường
trong bóng tối, đã là một cặp chiến tướng kiệt xuất cùng với
Tướng Đỗ Cao Trí hết sức hiểu ý nhau trong binh ngũ. Cả hai vị
Tướng đều tương kính nhau và đã đưa quân lực Việt Nam Cộng Hòa gặt
hái nhiều chiến công vang dội.
Sở trường của Thiếu Tướng
Hiếu là chiến thuật nhử địch lộ diện để tiêu diệt. Nổi bật là cuộc
hành quân Snoul, 1971 ở Cao Miên. Nhưng chiến thuật dụ địch tuyệt
vời này lại không thành công vì thượng cấp của ông là Tướng Minh
thay đổi ý kiến vào phút chót.
Đại để là cuộc hành quân Toàn
Thắng 02/71 sẽ được tổ chức từ tháng 3/1971 đến tháng 6/1971,
Thiếu Tướng Hiếu sẽ dùng Trung Đoàn 8 Bộ Binh của Sư đoàn 5 Bộ Binh
nhử địch trong khu vực Snoul. Nếu Sư Đoàn 5 Bắc Việt chấp nhận
giao tranh và tung các Trung Đoàn 174 và 275 đánh Trung Đoàn 8,
Quân Đoàn III sẽ sử dụng lập tức từ một đến ba sư đoàn bao vây
tiêu diệt Sư Đoàn 5 Việt cộng.
Tướng Đỗ Cao Trí có đề nghị
Bộ tổng tham mưu cử Tướng Hiếu làm tư lịnh Quân đoàn III thay thế
ông, nhưng không được chấp nhận. Và khi ông rời QĐ III nhậm chức
Tư lịnh QĐ I thì tử nạn trực thăng.
Tướng Nguyễn Văn Minh được đề
cử thay thế. Tướng Minh là Tướng văn phòng không phải tướng trận
mạc, nên không mặn mà với kế hoạch dụ địch trước đó. Chiến thuật
dụ địch không thay đổi, chỉ thay đổi ở chỗ dùng B52 diệt địch quân
(áp lực của cố vấn Mỹ) thay vì dùng ba sư đoàn bộ binh để
diệt địch. Thiếu Tướng Hiếu lưu ý Tướng Minh, rằng dùng B52 rải
bom không những giết chết binh sĩ việt cộng mà còn tàn sát luôn
Trung Đoàn 8 VNCH, như vậy cái giá của chiến thắng là sinh mạng
của hàng ngàn chiến sĩ Trung Đoàn 8 Bộ Binh. Đánh giặc theo kiểu
giết người hàng loạt như vậy thì quá dễ, ngây ngô và vô nhân đạo
quá. Chính vì lòng NHÂN đối với binh sĩ dưới quyền mà Tướng Hiếu
đã cưỡng lịnh cấp trên rồi bị trừng phạt.
- Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 1 (6/1971-2/1972)
- Thứ Trưởng Bài Trừ Tham Nhũng (2/1972-12/1973)
- Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 3 (29/10/1973-08/4/1975)
Các Chiến Công hiển hách của Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu gồm:
- Quyết Thắng 202 (Đỗ Xá), 1964
- Pleime, 1965
- Thần Phong II, 1965
- Liên Kết 66
- Đại Bàng 800, 1967
- Toàn Thắng 46, 5-1970
- Toàn Thắng 8/B/5 , 10-1970
- Toàn Thắng TT02, Snoul 1971
- Svay Riêng, 1974
- Phụ tá đặc trách ủy ban chống tham nhũng, 2-1972-10-1973.
Được đặc phái điều tra những
vụ án tham nhũng lớn có liên quan đến quân đội, để rồi bị ám sát
ngay tại văn phóng Tư lịnh phó, đây là một điều đáng tiếc cho đất
nước và tộc Việt.
Về tài trí, đức độ, đức tánh
thanh liêm cũng như nghệ thuật điều binh, Trung Tướng Nguyễn Văn
Hiếu xứng đáng được tôn xưng là một trong Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự
Việt Nam của một ngàn năm thứ hai.
Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo tháng 03/2010; Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính 2011
Tham khảo:
- Đức Vua Trần Nhân Tông - Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo; Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính 2011
- Trang nhà Nguyễn Tín
- Wikipedia

