Anh Hùng Hồ Ngọc Cẩn
Trúc Lâm Lê An Bình sưu khảo
Ông sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938 và mất ngày 14 tháng 8 năm 1975
Nguyên Ðại tá Tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện năm 75.
Là sĩ quan Sư Ðoàn 21 Bộ Binh.
Cố Đại tá nổi tiếng nhờ sự tác chiến vững chải và gan dạ của ông.
Ông là sĩ quan trẻ tuổi và thăng cấp mau lẹ của QLVNCH (nhờ thực
tài).
Hiến dâng trọn cuộc đời cho
công cuộc đấu tranh chống bạo quyền Cộng-sản, dành lấy tự do cho
dân tộc, Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn xuất thân từ một gia đình có truyền
thống chống Cộng. Nhập học trường Thiếu Sinh Quân năm 14 tuổi. Sau 4
năm học, nhà trường đã rèn luyện ông thành một chiến sĩ có căn bản
vững chắc về lập trường Quốc-Gia và kiến thức Quân-sự.
Năm 18 tuổi, sau khi tốt
nghiệp Trường Thiếu Sinh Quân, ông đã trở thành Huấn Luyện Viên
Quân Sự của nhà trường. Tiếp tục theo học Khóa 2 Sĩ quan Ðặc biệt
Ðồng Ðế Nha Trang vào năm 1961-1962. Ông đỗ Thủ khoa với cấp bậc
Chuẩn úy và giữ chức vụ Trung đội trưởng Biệt Ðộng Quân.
Qua nhiều cuộc giao tranh ác
liệt với Vc từ 1962-1963, ông đã trưởng thành trong khói lửa và
được đề cử giữ chức vụ Ðại đội trưởng 368 và cũng trong thời gian
này ông được bầu làm Chiến sĩ xuất sắc của Binh chủng Biệt Ðộng
Quân thuộc Quân khu 4. Do đó, không lấy làm lạ khi ông được
tuyển-chọn đi dự Khóa Sình Lầy Mã-Lai năm 1964.
Với những chiến công dồn dập, ông được thăng cấp Ðại úy Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 42 BÐQ.
Từ 1966-1968, ông được thăng
cấp Thiếu tá, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/33 thuộc Sư đoàn 21 Bộ
Binh. Sau đó, ông giữ chức vụ Trưởng phòng 3 Sư đoàn 21 Bộ Binh và
là Thuyết trình viên cho chiến dịch U-Minh, nhằm tấn công và kiểm
soát vùng này.
Từ 1970-1971 : Trung tá Trung đoàn phó Trung đoàn 33 thuộc Sư đoàn 21 Bộ Binh.
Từ 1972-1973 : Trung tá Trung
đoàn trưởng Trung đoàn 15 Bộ Binh thuộc Sư đoàn 9. Trung đoàn 15 Bộ
Binh được tăng phái hành quân cho Sư đoàn 21 Bộ Binh. Tư lịnh lúc
bấy giờ (Sư đoàn 21 Bộ Binh) là Chuẩn tướng Hồ Trung Hậu, trước kia
là Tư lịnh phó Sư đoàn Nhảy Dù, đang đảm trách chỉ huy hành-quân
giải-tỏa An-Lộc. Bộ chỉ huy hành quân lúc đó đóng tại Lai-Khê.
Sau khi nhận lịnh, Trung tá
Cẩn cho xuất phát hành quân. Suốt 3 ngày đêm ròng rả vượt bao gian
khổ trở ngại, đơn vị của ông bị địch phát giác. Bọn địch cố bám vị
trí yết hầu đường đi lấy nước. Ông tìm cách liên-lạc với Bộ Tư lịnh
Sư đoàn 21 Bộ Binh. Người chịu trách nhiệm tiếp tế nước lúc đó là
Ðại tá Nguyễn Tiến Lộc, thường gọi là ông già FM đầu bạc, Tham mưu
trưởng Sư đoàn. Trung tá Cẩn rất khiêm nhường chỉ xin được tiếp tế
muối và nước để cuộc hành quân lịch-sử giải-tỏa An-Lộc có thể tiếp
tục được. Ðại úy Hạnh, Sĩ quan Tiếp tế và Chuyển vận thuộc phòng 4,
Sư đoàn 21 Bộ Binh đã lấy võ đạn 155 đựng nước, vặn khóa thả dù
tiếp tế.
Với bao kinh nghiệm và thao
lược sẵn có, Trung tá Cẩn đã cùng các cánh quân bạn chọc thủng
phòng tuyến của địch, đánh bật Cộng quân ra khỏi vùng tử thủ. Sau
cùng nối liền tuyến phòng ngự của Tướng Lê Văn Hưng. Hai bên tay
bắt mặt mừng, thấm tình Huynh Ðệ Chi Binh.
Trong chiến dịch này, Hồ Ngọc
Cẩn được thăng cấp Ðại tá với 20 tuổi lính và 34 tuổi đời, tuổi
hăng say tin tưởng vào tương lai. Ông nhận nhiệm vụ mới với nhiều
khó khăn thử thách trong tình trạng khẩn trương của đất nước : Tỉnh
trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Chương Thiện.
Ở đây, sau một thời gian đọ
sức đấu trí gay go, ông đã dọn sạch các căn cứ hậu cần của Cộng
quân xây dựng từ nhiều năm trước đó.
Bất cứ ở đâu, bất cứ chức vụ
nào do cấp trên giao phó, ông đều gieo rắc sự kinh-hoàng cho địch
và đồng thời đem lại vinh quang về cho hàng ngủ Quốc gia.
Ngày 30 Tháng 4 năm 1975, Cộng
sản thôn tính trọn miền Nam. Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn lại có dịp chứng
tỏ long trung kiên dũng cảm và son sắt trước uy vũ bạo tàn.
Thực vậy, sau nhiều ngày bị
Cộng quân tấn công bằng xa tăng và có pháo binh yểm trợ vào Tiểu
khu Chương Thiện, Ðại tá Cẩn chỉ huy chặn đứng nhiều đợt tấn công
biển người của địch quân. Nhưng ‘mãnh hổ nan địch quần hồ‘. Sáng
ngày 30/4/75, chu vi phòng thủ càng bị thu hẹp lại. Trong khi binh
sĩ còn đang cầm súng với không hơn 2 Ðại đội với nhiều người hy
sinh và bị thương. Ðến 12 giờ trưa cùng ngày, có lệnh đầu hàng của
Dương Văn Minh, ông vẫn hiên ngang cùng binh sĩ tử thủ chiến đấu
mặc dầu khắp nơi bọn Cộng quân đều hô hào đại thắng. Ðến 5 giờ
chiều, bọn chúng tấn công mạnh vào phía Ðông của Tiểu khu. Chi đội
Thiết vận xa của ta thất thủ. Cộng sản đã xử dụng M113 lấy được làm
phương tiện tấn công quân ta. Phía Bắc và Tây Tiểu khu, Cộng quân
cho lực lượng Bộ Binh trang bị vũ khí hùng hậu có pháo binh yểm trợ
ồ ạt tấn công. Sau 2 giờ quyết tử, tuyến phòng thủ pháo binh của
Sư đoàn 21 Bộ Binh hoàn toàn tê liệt. Cộng quân lại xử dụng trọng
pháo 155 ly lấy được của ta bắn xối xả vào Bộ chỉ huy Tiểu khu.
Toàn thể chiến sĩ còn lại đã
chiến đấu vô cùng anh dũng dù đạn dược đã cạn dần từ lúc 10 giờ đểm
30/4/75. Mãi đến 11 giờ đêm ngày 1/5/75, Bộ chỉ huy Tiểu khu mới
hoàn toàn thất thủ.
Trước giờ phút nghiêm trọng
này, đức tính trong sáng của người chỉ huy vẫn được thể hiện nơi
Ðại tá Cẩn. Thực vậy, không muốn cho đồng đội hy sinh, Ðại tá Cẩn
đã buộc tất cả phải rời Tiểu khu. Chỉ còn lại một mình và người
lính cận vệ trung thành, Ðại tá Cẩn dũng cảm chiến đấu ngăn chận
địch che chở cho anh em binh sĩ rút lui bằng khẩu đại liên và 4
thùng đạn.
Hết đạn, Cộng quân ập vào
chiếm Trung tâm Hành quân, Ðại tá đã tự sát với khẩu rouleau nhưng
không kịp thi hành ý định nên đành phải sa cơ.
Cộng sản dùng xe Jeep chở Ðại
tá Cẩn đến phi trường Vị-Thanh. Nơi đây chúng đã đánh đập Ðại tá
Cẩn rất dã man, dùng súng dọa giết. Ðại tá Cẩn dõng dạc nói thẳng
vào mặt kẻ thù : ‘Tôi chỉ có một mình không vũ khí, nhưng tôi không
đầu hàng, các ông cứ bắn tôi đi. Nhưng trước khi bắn tôi xin được
mặc quân phục và chào lá Quốc kỳ của tôi lần sau cùng’. (Ðây là lời
kể lại sau này của một tên Cộng sản bắt Ðại tá Cẩn, nhưng kính phục
hành động anh hùng của Ðại tá Cẩn nên kể lại cho thân nhân và một
số người ở vùng miền Tây nghe).
Thấy Ðại tá Cẩn bất khuất,
chúng trói ông bằng kẽm gai và giải về Tiểu khu Chương Thiện, giam ở
nơi đây hơn 3 tháng, sau đó chuyển về Cần Thơ và nhiều lần đổi
trại giam. Nhiều chiến sĩ ta bị giam chung cho biết Cộng sản đã tra
tấn hành hạ ông bằng đủ mọi hình thức dã man nhất. Nhận thấy vô
vọng, không khai thác được gì ở người anh hùng này nên chúng đành
mượn tay tòa án (một thứ tay sai đắc lực của đảng CSVN) kết án tử
hình ông với tội danh hết sức kỳ quái : ‘Giết hàng ngàn người vô
tội‘. Mặc dù dân chúng còn ở lại Việt Nam sau năm 75, không còn lấy
gì làm lạ với những bản án như vậy, nhưng bọn chúng vẫn lì lợm gọi
đó là ‘Tòa án nhân dân’ và ‘Nhân dân đã phán xét như thế‘.
Sáng ngày 14/8/75, trước vành
móng ngựa với hai tay bị còng, sau khi bản án viết sẵn đọc xong,
bọn chúng liền nhanh tay nhét giẻ vào miệng Ðại tá Cẩn để ông không
kịp nói lời nào. Mọi người Việt Nam có mặt hôm đó đều vô cùng xúc
động và thương tiếc.
Buổi chiều cùng ngày, bọn
chúng đưa Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn ra sân bắn, bịt miệng, bịt mắt. Thản
nhiên bình tỉnh như sẳn sàng tiếp nhận một cái chết anh hùng khi
thất thế. Hiên ngang đi vào lòng đất Mẹ, Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn đã nằm
xuống nhưng gương sáng vẫn rạng ngời.
Trúc Lâm Lê An Bình sưu khảo