...
Ngày 16/11 (Cochran):
Trong lúc trận chiến xảy ra tại Xray, Tướng Swede Larsen
đang bị giới báo chí chất vấn tại sao chúng ta rời bỏ chiến
trường. Họ không hiểu cách thức các đơn vị ta chiến đấu. Với
một đơn vị không kỵ tấn công, chúng tôi không đếm xỉa gì đến
địa thế. Chúng tôi có thể đi đến bất cứ đâu. Chú tâm là địch
quân. Chúng tôi đi đến ngay chỗ có địch. Tại Xray, địch ngưng
đánh, chúng tôi không ngưng giao chiến. Chúng tôi không thấy lợi
gì ở lại Xray. Mảnh đất này không có giá trị gì đối với tôi.
Tôi muốn đi tới nơi này có bóng dáng địch. Nhưng Tướng Swede
Larsen ra lệnh cho tôi ở lại địa điểm này, và tôi ở lại đó
thêm 24 tiếng đồng hồ.
- (Cochran, Alexander S., "First Strike at River Drang", Military
History, Oct 1984, pp 44-52, Per. Interview with H.W.O Kinnard, 1st
Cavalry Division Commanding General.)
- (Coleman, J.D., "Pleiku, the Dawn of Helicopter Warfare in Vietnam",
St. Martin’s Press, New York)
= Chuyện Bên Lề : Đại Tá Hiếu và Tướng Larsen
Khi trại Pleime bị tấn công ngày 19 tháng 10 năm 1965, Đại
Tá Hiếu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II xin Tướng Larsen, Tư Lệnh
First Field Force Vietnam, tăng cường quân số. Tướng Larsen chất
vấn về quyền lực và khả năng chỉ huy của Đại Tá Hiếu (G3 Journal/IFFV):
- 08:20G: Quân Đoàn II Capt Ushijima - Có ai tại Pleiku có
thể lấy quyết định thay Tư Lệnh trong khi Tướng Vĩnh Lộc vắng
mặt không? Yêu cầu nắm vững tình hình hành quân của Thần Phong
6, Pleime và Quốc Lộ 21 và bảo quản thông tin chính xác và tức
thời chuyển về Bản Doanh này. Trả lời: Tham Mưu Trưởng có mặt
tại đây và giữ liên lạc với Tư Lệnh tại vùng ven biển. Hỏi:
Tham Mưu Trưởng có lấy một quyết định được không. Trả lời: TMT
sẽ phối kiểm với Tư Lệnh trước khi lấy một quyết định.
Dần dà Tướng Larsen nể trọng viễn kiến và tài năng chỉ huy
của Đại Tá Hiếu trong công cuộc tiếp cứu trại Pleime và hậu
quả là ông hoàn toàn chấp thuận khái niệm hành quân của Đại
Tá Hiếu trong cuộc Pleime phản công và mật khu ‘Chu Prong và Ia
Drang. Lẽ dĩ nhiên, Đại Tá Hiếu tinh khôn đủ để núp bóng đàng
sau Tướng Vĩnh Lộc trong khi hành xử với tất cả các sĩ quan
cao cập Mỹ. Đại Tá Hiêu quả là một tham mưu trưởng độc nhất vô
nhị!
Sau này, Đại Tá Hiếu được chỉ định làm Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ
Binh và tiếp tục có dịp làm việc mật thiết với Tướng Larsen
rồi Tướng Peers, người kế vị Tướng Larsen tại bản doanh I Field
Force Vietnam.
3. Nghi Binh Dụ Địch Tấn Công
Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 sa vào thế nghi binh Lữ Đoàn 3 dụ
khiến cho lấy quyết định tấn công lại Pleime ấn định vào ngày
16 tháng11. Lần này trưng dụng cả ba Trung Đoàn 32, 33 và 66,
cộng thêm
“một tiểu đoàn pháo kích 120 ly và một tiểu đoàn súng
phòng không hai nòng 14,5 ly; cả hai đơn vị này đang trên đường
xâm nhập và dự tính sẽ tới kịp thời cho cuộc tiến công”.
Trong năm ngày kế tiếp, cho tới ngày 13/11,
“Mặt Trận B3 qui tụ các đơn vị vào các vùng tấp trung
quân để chuẩn bị và tập dượct cho cuộc tấn công sắp tới nhằm
vào Pleime”.
Và ngày 13,
“Các đơn vị của Mặt Trận B3 khởi sự dàn quân trong vùng
Chu Prong – Ia Drang để chuẩn bị tiến quân tới Pleime và cuộc
tấn công dự định cho ngày 16 tháng 11. Một số toán trinh sát
và các đơn vị vận tải đã bắt đầu di chuyển ra khỏi vùng dàn
quân.”
Đã đến lúc gọi oanh tạc B52 tới. Tuy nhiên, để dụ Mặt Trận
B3 kéo dài thời gian duy trì các toán quân tại các vùng dàn
quân, Đại Tá Hiếu nghĩ ra kế nghi binh khiến địch điều chỉnh
lại mục tiêu chú ý từ Pleime qua LZ X-Ray bằng cách tung một
tiểu đoàn không kỵ vào “địa điểm 3 cây số đông bắc Chu Prong, 200 thước cách vị trí Tiểu Đoàn 9/Trung Đoàn 66” (Tướng Nguyễn Hữu An) ngày 14/11. Khi thấy Tiểu Đoàn 1/7 đổ bộ tại LZ X-Ray, Mặt Trận B3 ”ra lệnh đình trệ tấn công Chu Hô”,
và quy hướng chú ý về phía đơn vị mới xuất hiện. Làm thế,
Mặt Trận B3 giữ các toán quân tập trung tại vùng dàn quân liên
hệ.
Một lý do khác cho việc lựa chọn ngày 14/11 để đổ Tiểu
Đoàn 1/7 vào là để tránh các hỏa lực chết người của các
súng phòng không 14,5 ly có thể bắn hạ tất cả mọi chiếc trực
thăng vận chuyển quân và của bích kích pháo 120 ly có thể banh
xác lính bộ binh trước khi xung phong.
Sứ mạng chính trao cho Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ là đánh
lạc hướng chú ý của địch quân và đặt vị trí nút chận tại
chỗ. Nếu địch quân lấy quyết định án binh bất động, thì tốt
và sẽ là mồi ngon cho oanh tạc B52. Nếu địch lấy quyết định
tấn công, thì bắt chặt phòng tuyết để cho phép B52 oanh tạc
nhưng nơi đã ấn định.
Khi chỉ có Tiểu Đoàn 9/Trung Đoàn 66 xấn tới tấn công,
chỉ có một tiểu đoàn không kỵ, tiểu Đoàn 2/7, được phái tới
tăng cường, thay vì dồn đống tăng cường quân số ào ạt, để
tránh Mặt Trận B3 xua Trung Đoàn 32 và 33 vào tham chiến, thì
sẽ hủy hoại kế hoạch dùng oanh tạc B52, vì lẽ quân lính bạn
và thù sẽ kề sát bên nhau.
Và do đó,
“ngay sau trưa một vùng rộng lớn gần YA8702 thình lình nổ
tung với hàng trăm tiếng nổ long trời lở đất chuyển vận ngang
qua trên mặt đất tựa như một tấm thảm khổng lồ được trải dài
ra. Oanh tạc cơ B52 đã ra tay.”
Ngày hôm đó, 18 phi xuất được thực hiện, và
“trong năm ngày kế tiếp các oanh tạc cơ tuần tự làm thịt
từng vùng rộng lớn của rặng núi Chu Prong. Các quân lính Bắc
Quân sống trong khiếp hãi vì họ xác tín là mỗi một trận tấn
kích bao chùm một vùng 20 cây số vuông và họ nghe nói là các
hầm hố, địa đạo không còn là nơi trú ẩn an toàn.”
Ngày 17/11, hai tiểu đoàn không kỵ được lệnh từ bỏ LZ X-Ray để cho phép B52 oanh tạc mục tiêu ngay chính bãi đáp.
Và do đó,
- bằng cách không cho phép Tiểu Đoàn 1/7 càn quét về
phía tây lùng kiếm địch quân, thay vào đó là giữ an ninh cho
phòng tuyến tại bãi đáp;
- bằng cách chỉ tăng cường một tiểu đoàn, Tiểu Đoàn 2/7,
thay vì dồn đống quân số ào ạt khi địch quân chấp nhận giao
tranh;
- bằng các hoán chuyển các đơn vị ngày 16/11, thay vì tăng trưởng quân số hiện diện tại bãi đáp;
- bằng cách để cho hai tiểu đoàn, Tiểu Đoàn 2/7 và 2/5,
tiếp tục bảo vệ bãi đáp, thay vì di chuyển về phía tây truy
đuổi tàn quân của địch quân đang rút lui;
- bằng cách không hoàn toàn và nhanh chóng rút ra hai
tiểu đoàn bằng trực thăng ngày 17/11, thay vì ra lệnh hai tiểu
đoàn này chậm rãi rảo bước theo hướng tây bắc để nhường chỗ
cho B52 oanh tạc tại bãi đáp;
bằng tất cả các thế điều quân trên, Tướng Knowles – hay ai
đó đàng sau ông - chứng tỏ là ý đồn dùng bộ chiến tấn công
vào chận rặng núi Chu Prong được thực hiện như là một thế nghi
binh đánh lạc hướng chú ý địch quân, chứ không
là một cuộc hành quân thường lệ, như mọi cuộc hành quân thông thường sâu vào lòng đất địch.
Tổn thất địch gây nên bởi oanh tạc B52 lên tới khoảng 2000 chết.
= Ai làm phận sứ dình dập? Đại Tá Hiếu.
= Ai bật đền xanh cho mở màn cho từng giai đoàn điều quân –
lùa, khiển dụ, đánh lạc hướng chú ý, oanh tạc B52? Đại Tá
Hiếu.
Như vậy là khái niệm hành quân xử dụng oanh tạc B52 làm
nỗ lực chính và bộ chiến của Sư Đoàn 1 Không Kỵ làm nỗ lực
phụ hỗ trợ. Tướng Kinnard nhầm lẫn hoàn toàn khi ông viết (Pleiku Campaign, trang 93):
Nhưng đó không phải điều Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II muốn.
Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II muốn tự tay mình làm lấy công việc này
và chỉ nhờ Sư Đoàn 1 Không Kỵ thiết lập một căn cứ hỏa lực
mới gần biên giới Căm Bốt tại LZ Crooks để yểm trợ pháo binh
cho Lữ Đoàn Dù VN thực hiện cuộc hành quân Thần Phong 7 nhằm
triệt tiêu hai Tiểu Đoàn 635 và 334 còn sống sót của địch; Lữ
Đoàn 2 Không Kỵ đóng trong vai trò trừ bị (hành quân Silver
Bayonet I), với sứ mạng chính là bảo vệ căn cứ hỏa lực LZ
Crooks (Pleime, chương VI):
Ước tính tình báo về khả năng địch, thực hiện vào ngày
17 tháng 11 chỉ cho thấy là gần 2/3 lực lượng của họ bị tiêu
hao trong những trận giao tranh ở Đợt I và Đợt II.
Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II nghĩ là đến lúc tung lực
lượng trừ bị vào để chấm dứt trận chiến đã kéo dài khoảng
một tháng. Ngoài bị tổn thất nặng nề, địch buộc phải xa vào
bẫy các lực lượng của ta giăng ra và xô đẩy vào các lộ trình
rút lui mà chúng ta dự kiến.
Lần này nỗ lực chính được thực hiện bởi Lữ Đoàn
Dù QLVNCH với sứ mạng triệt hủy các đơn vị Việt Cộng đào
tẩu và tất cả các cơ sở xung quanh thung lũng Ia Drang. Sư Đoàn 1
Không Kỵ Mỹ trước nay gánh chịu tấn công sẽ tiếp tục tạo áp
lực từ Đông sang Tây và cung ứng pháo yểm cho Lữ Đoàn Dù.
Cuộc hành quân mang tên "Thần Phong 7" khởi động
chiều ngày 18 tháng 11 khi lữ đoàn đươc trực thăng vận tới vùng
hành quân, ngay sau khi tới Pleiku.
Đại Tá Hiếu không lệ thuộc vào Sư Đoàn 1 Không Kỵ để được
cung cấp trực thăng chuyển vận quân lính của năm tiểu đoàn dù
vào vùng hành quân. (Tôi thắc mắc Đại Tá Hiếu có yêu cầu nhưng
bị từ chối?) Công vụ này được 52d Aviation Battalion đảm nhiệm:
18 tháng 11: Phi Đoàn 52 chuẩn bị cuộc hành quân Thần Phong
7 của Quân Đoàn II QLVNCH từ Đức Quân. Các đơn vị của Phi Đoàn
52 gồm mười UH1D, mười hai UH1B và mười một Uh1B được tăng cường
bởi mười hai UH1D và sáu UH1B từ Phi Đoàn 229, Sư Đoàn 1 Không
Kỵ. Một ngày năm trăm (1500) binh sĩ được chuyển vận trong năm
chuyến từ Duc Co tới bãi đáp YA 841092. Hai (2) chiếc UH1D từ Phi
Đội 155 bị hư hại nhẹ bởi hỏa lực dưới đất bắn lên, không gây
thương tích. Một yếu tố lớn trong cuộc hành quân được thực
hiện lần đầu tiên đối với Phi Đoàn là việc đổ xăng vào mười
hai chiếc trực thăng cùng một lúc từ các cột xăng được dàn
dựng trước, không cần tắt máy trực thăng.
Khi kêu gọi đến Lữ Đoàn Dù, Đại Tá Hiếu đã sắp xếp chu
đáo mọi sự cho Trung Tá Ngô Quang Trưởng. Trung Tá Trưởng không
phải giơ lên một ngón tay để làm bất cứ gì liên quan đến việc
chuẩn bị, tuy tính, đặt kế hoạch, vạch bản đồ, thu xếp, hết
thay thảy; ông chỉ việc vác xác đến và thi hành mệnh lệnh của
Đại Tá Hiếu và thành công phục kích địch hai lần. Ngay cả
mọi thế điều quân tác chiến tại chiến trường đều được Đại Tá
Hiếu mớm ý cho (G3 Journal/IFFV, ngày 19/11/1965 lúc 16:55G)
16:55G: 1st Cav (Rear) Capt Parham - BCH tiền phương nói là
các đơn vị trong vùng Chiến Đoàn Dù được phối hợp tại các
cấp bậc cao hơn là Ban 3 Tiền Phương. Chiến Đoàn Dù biết rõ
điều này. Không có thông tin nào khác.
Trung Tá Ngô Quang Trưởng thực hiện cuộc hành quân Thần Phong 7
một cách thật lạ kỳ dưới sự chỉ đạo kín đáo nhưng cứng rắn
của Đại Tá Hiếu khiến Thiếu Tá Schwarzkopf phải há hốc miệng
kinh ngạc trong suốt cuộc hành quân! (Nét Ngây Ngô của Tướng Schwarzkopf Trong Trận Đánh Ia Drang)
4. Nghệ Thuật Khắc Phục Con Ngựa Chứng
= Khi Đại Tá Hiếu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, xin tăng
cường quân số để tổ chức một lực lượng tiếp cứu trại Pleime,
Tướng Larsen phái cho Task Force Ingram, gồm Tiểu Đoàn 2/12 Không
Kỵ và một tiểu đoàn pháo binh. Nhưng Tướng Kinnard lại tham
muốn đóng một vai trò quan trọng hơn và đem lên trọn cả một Lữ
Đoàn 1 Không Kỵ chỉ huy bởi Tướng Knowles. Và Tướng Knowles thì
đòi có toàn quyền (Coleman, trang 87):
Sau khi thiết lập bản doanh dã chiến ngay bên ngoài bộ tư
lệnh Quân Đoàn II trong thành phố Plieku, Tướng Knowles gọi cho
Tướng Kinnard và nói, “Này ông chủ, theo như quan hệ hiện tại
thì chúng ta sẽ gặp nhiều vấn đề. Nếu ông và Swede không tin
tưởng đủ vào tôi, thì xin đem ai khác lên đây có được lòng tin
tưởng hơn.” Tướng Knowles không phải nhọc công thuyết phục Tướng
Kinnard là người tin vào thể thức trao quyền cho thuộc cấp.
Nhưng Tương Kinnard cần phải thuyết phục Tướng Larsen rằng Tướng
Knowles cần có sử uyển chuyển đền hành sự. Đây còn là thời
kỳ mới mẻ trong sự tham dự trực tiếp của Mỹ vào cuộc chiến,
và các vị chỉ huy cao cấp cách chung đang nhón nhén dò dẫm
vào các vị trí thượng phong. Do vậy lệnh cho Tướng Knowles được
hoán cải thàn: “Trợ giúp QLVNCH khi được yêu cầu, và xin phép
khi thời gian và thông tin cho phép.” Chủ yếu là Tướng Knowles
được trao cho môt tấm chi phiếu trắng tinh.
- Đại Tá Hiếu đã chế ngự tính hiếu thắng của Tướng Knowles
bằng cách buộc ông phải chấp nhận vào khuôn phép trong vai trò
yểm trợ giữ an ninh cho thành phố Pleiku.
= Sau khi giải tỏa trại Pleim, Tướng Kinnard/Knowles muốn
truy đuổi các toán quân tháo lui của địch (Coleman, trang 99):
Chiều ngày 26, Tướng Westmoreland, Larsen, Kinnard, and
Knowles họp bàn định tại bản doanh Lữ Đoàn 1 tại LZ Homecoming.
[…] Trong buổi họp giữa Tướng Westmoreland và các sĩ quan sư
đoàn, Tướng Kinnard nhận mạnh chủ đề là các lực lượng Mỹ bây
giờ phải làm nhiều hơn là chỉ chận đứng địch quân và tăng
cường cho QLVNCH. Theo ông cảm nghiệm thì phải mạnh dạn lùng
kiếm và tiêu diệt Bắc Quân. Lẽ đương nhiên, về phía Tướng Westy,
Tướng Kinnard đang xướng giọng lên cho ca đoàn; Tướng Westmoreland
đã lâu muốn có dịp tấn công. Tướng Kinnard và Knowles dùng
nhiều thì giờ trong buổi họp để giải thích cho Tướng
Westmoreland và Larsen sư đoàn chính xác có thể làm gì và chu
toàn công việc tới mức toàn hảo nào. Rốt cục, Tướng
Westmoreland xoay qua Tướng Larsen và nói: “ “Thả giây buộc cổ ra cho Tướng Kinnard.”
- Đại Tá Hiếu buộc phải buộc giây cương vào cổ Tướng Kinnard/Knowles với phương thức làm việc chung như sau(Why Pleime, trangVIII):
Tình báo và sinh hoạt yểm trợ, khái niệm hành quân và
kết quả chia sẻ chung cho nhau; tách biệt về khu hành quân, chỉ
huy, dàn quân, thực hiện các sinh hoạt, và trừ bị.
Tướng Kinnard có ý kiến riêng trong việc thực hiện hành quân chống du kích chiến (Cochran):
niêm phong vùng quân du kích đang giao tranh, cắt đứt chúng khỏi nguồn tiếp ứng, tiếp vận, súng đạn.
Và làm sao áp dụng chiến thuật tấn kích trực thăng vận mà ông đã khai triển:
Ngay sau khi giải tỏa Pleime, tôi cảm thấy là có bổn phận
truy lùng những quân lính Việt Cộng hiện diện quanh trại. Do
đó chúng tôi đề ra một phương thức lùng kiếm trong đó Thiết
Đoàn Kỵ Binh bao dàn một khu vực rộng lứn và tôi xử dụng một
lữ đoàn bộ binh để thả xuống một tiểu đoàn bộ binh và lục
lạo tại một vùng này vùng kia. Tôi cảm thấy chúng ta cần phải
phân tán ra từng toán nhỏ để có thể bao dàn nhiều diện tích
hơn và cũng khiến địch lầm tưởng là có thể đánh lừa ta. Không
thể đặt xuống trọn một tiểu đoàn ngoài bãi chiến trường và
lê chân đây đó. Phải phân tán ra thành những đơn vị cỡ đại đội
và trung đội. Phải dựa vào sự kiện là với trực thăng có thể
đáp ứng nhanh hơn bất cứ ai trong lịch sử. Tôi cũng học được
bài học hoàn toàn mới mẻ đối với tôi là mỗi đơn vị không
đụng độ với địch quân là một trừ bị có thể dùng tới. Đây là
chiến lược của tôi. Bắt đầu từ một chỗ nào đó, phá vỡ ra
từng toán nhỏ, tùy theo địa thế, và nhào nặng vùng đó trong
khi Thiết Đoàn Không Kỵ bay lượn khắp nơi. Điều quan yếu của
cuộc chơi là đụng độ. Chúng tôi tìm kiếm mọi hình thức đụng
độ – một trực thăng bị bắn, tìm một ổ lửa cắm trại, tìm một
bao bị quân trang, cỏ bị vùi rạp.
Trong một khoảng thời gian, Đại Tá Hiếu để cho Tướng Knowles
tha hồ tung hoành trong vùng đất rộng lớn trải dài từ Pleime
đến Chu Prong lùng kiếm địch quân, biết rằng ông sẽ không tài
nào niêm phong được một khu vực với chiều kích 40 cây số x 50
cây số bao phủ bởi rừng rậm, ngay cả với trên 500 chiếc trực
thăng và với ba lữ đoàn không kỵ, và ông sẽ không tài nào tìm
ra và bắt được các con chồn Việt Cộng nhanh chân lủi chốn vào
bụi rậm. Đại Tá Hiếu không mấy quan ngại, vì có cao kiến hơn
để đối phó với một địch quân đang lẩn trốn: dình dập chúng,
lùa chúng vào một địa điểm, rồi đánh vùi dập chúng với bom
trải thảm B52.
* Do vậy, ngày 8/11, Đại Tá Hiếu khiến Tướng Knowles quay
đầu từ hướng tây sang hướng đông, mà không giải thích gì.
* Thế rồi đến ngày 12/11, Đại Tá Hiếu lại khiến Tướng
Knowles trở đầu về lại hướng tây, với một lời giải thích mơ
hồ: để khiển dụ địch quân tấn công trở lại.
* Rồi, không một lời giải thích rõ rệt – chỉ duy là một
cuộc hành quân thông lệ, Tướng Knowles được lệnh đổ một tiểu
đoàn quân lính tại chân rặng núi Chu Prong.
* Ngày 16/11, Tướng Kinnard muốn lập tức rút quân lính
của ông ra khỏi LZ X-Ray, Đại Tá Hiếu buộc ông phải nán lại lâu
hơn để chuẩn bị cho B52 oanh tạc ngay vào chính bãi đáp.
* Ngày 17/11, Tướng Kinnard lại nôn nóng muốn xua quân truy đuổi địch quân sang tới tận lãnh thổ Căm Bốt (Cochran):
Tôi khuyến cáo Tướng Swede Larsen và các thượng cấp cho
phép tôi truy đuổi địch vào tận Căm Bốt. Điều này không mấy ai
biết, nhưng lời yêu cầu của tôi đã được chấp thuận qua mọi bậc
thang cấp kể cả Đại Sứ Henry Cabot Lodge nhưng lại không được
chấp thuận tại Washington ... Tôi muốn tiêu diệt địch. Đáng lẽ
ra đó là bước sau của tôi, đó là điều tôi muốn Lữ Đoàn 2 thực
hiện...
Đại Tá Hiếu một lần nữa lại phải ghìm cương lên cổ Tướng
Kinnard và kêu gọi tới Lữ Đoàn Dù tới vì đơn vị thiện chiến
này sẽ thực hành quân giải phẫu hữu hiệu hơn là Sư Đoàn 1
Không Kỵ.
Tựu trung, tuy bề ngoài (Cochran)
phải nhớ là tôi [Tướng Kinnard] là người duy nhất từng
chỉ huy một sư đoàn tấn kích trực thăng vận. (…) Chỉ có Tướng
Gavin là chỉ huy sư đoàn này lâu dài hơn tôi.
Không chắc hẳn là
Tôi ý thức theo cách này hay cách khác không ai khác hiểu
tường tận khả năng và giới hạn của một sư đoàn tấn kích trực
thăng vận.
Có chứ, Đại tá Hiếu biết rõ hơn.
Nguyễn Văn Tín
20 tháng 12 năm 2011

