
...
LƯU NGUYỄN ĐẠT: Thưa Anh, quan
niệm thông thường hay phân loại văn, thơ riêng rẽ. Nhưng đối với một số tác
giả, giữa văn và thơ có một mối tương quan không những về tư tưởng mà cả về
hình thức trước tác. Giả thử như những Petits Poèmes en prose (Thơ Văn
ngắn) của Baudelaire, và những bài tùy bút của Nguyễn Tuân, thì tuy là văn
đó, nhưng chất thơ vẫn cô đọng, thẩm thấu phía trong. Khi đọc những bài tùy bút
của tôi, văn thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật gọi nó là “tâm từ” (les mots du coeur).
Tôi thấy rất gần gũi với cách diễn tả như vậy. Trong chiều hướng đó, văn
và thơ chỉ là những mảnh vải từ ngữ bọc ngoài (textures, textiles),
có khác nhau đôi chút về phương thức tác tạo, nhưng lại gần gũi, hội nhập về
chủ đích tạo tác: gây xúc động truyền cảm, chuyển dẫn những ý niệm tốt đẹp,
nhân từ, hướng thượng.
Còn Anh hỏi tôi tại sao không dùng cụm từ ”phê bình văn thơ””mà lại phải “chế
tạo” một từ mới: Văn Luận khi lo việc bỉnh bút về thơ, văn?
Thưa đó cũng giản dị thôi: tôi đặt ra từ “Văn Luận” để ấn định rõ lập trường
của tôi khi bỉnh bút là (1) chú trọng tới tác văn hơn là tới tác giả, (2) đồng
thời thấy cần trân trọng thảo luận, phân tích kỹ lưỡng hơn là phê phán, cho
điểm”một tác phẩm.
Tôi dùng phân tích luận (analyse litéraire, explication de texte),
phân tích cơ cấu (structuralisme), phân tích dấu hiệu và phân tích phá
cách (analyse sémiotique & déconstruction), cả tâm lý học (psychanalyse)
v.v. để khai sáng tư tưởng nội tại trong văn thi phẩm trực diện, cũng như đối
chiếu những phương thức cấu tạo làm chuẩn để giải thích kỹ thuật và văn pháp
liên hệ.
Như vậy, “Văn Luận” sẽ tiếp nối công trình sáng
tác bằng cách tìm hiểu và cân nhắc đối tượng văn học nghệ thuật để làm gạch nối
với độc giả, hơn là chỉ trích cá nhân hoặc chê bai vì thành kiến và phản ứng
nhất thời. “Văn Luận” cũng nhằm mở rộng giao văn quốc tế, tức là trao đổi văn
hoá và văn học đối chiếu qua các hệ thống sáng tác, các trào lưu tư tưởng, văn
cách và văn đạo khác nhau trên thế giới, với mục đích duy nhất là hội nhập nhân
bản. “Văn Luận” rút cuộc là một bản đại hoà tấu liên tạo thi văn, mà giao hưởng
và thưởng ngoạn chỉ đạt được bằng mức độ truyền cảm linh biến giữa tác giả,
bình giả, và đọc giả – qua tác phẩm và hiện tượng tạo tác liên hệ.
Thưa Anh, tôi cũng đang chuẩn bị ấn hành Văn Luận II để phân tích và
khai sáng một số văn thi phẩm mới thực hiện trong Nền Văn Học Việt Nam Hải
Ngoại, cũng như trong trào lực sáng tác mới mẻ của các tác giả trẻ, tự trọng,
đang đối đầu với truyền thống đảng phiệt tăm tối trong Nước, để hé mở những
triển vọng dân chủ khai sáng nhân bản.
18. HỒ TRƯỜNG AN: Qua những
thành tích của ngành nghệ thuật tạo hình và điêu khắc trên thế giới, Anh ngưỡng
mộ giai đoạn, hệ phái, tác giả nào? Khi vẽ tranh và làm tượng, anh theo trường
phái nào?
LƯU NGUYỄN ĐẠT: Trong lịch trình tiến hóa trên thế giới của mỹ
thuật, của ngành nghệ thuật tạo hình và điêu khắc, tôi thích nhiều giai đoạn và
trường phái khác nhau. Nhưng nếu phải chọn lựa, tôi xin thu hẹp vào thời cận
đại, và hiện đại, vì gần gũi với mình hơn. Hội hoạ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX, đổi hướng về mặt kỹ thuật và nội dung trước tác. hệ phái Impressionisme
(Phái Ấn Tượng) Của Edouard Manet, Claude Monet, Pissaro, Sisley tập trung
loại tranh vẽ ngoài trời (plein-air) với những nét chấm phá ấn tượng.
Pierre-Auguste Renoir, Edgar Degas, Paul Cézanne, Henri de Toulouse-Lautrec quy
tụ vẽ đời sống dân gian Paris hằng
ngày (demi-monde). Vincent van Gogh, Paul Gauguin, Henri Rousseau với những nét
vẽ mới lạ, mạnh bạo về màu sắc và bố cục là những hoạ sĩ mở đầu cho phong trào
hội hoạ hiện đại. Từ Hệ Phái Ấn Tượng, hội hoạ Pháp và Âu Châu xuyên chiếu qua
nhiều giai đoạn nối tiếp, như Symbolisme (Phái Biểu Tượng), Belle
Époque và Les Années Folles (Thời Mỹ lệ và Thời Điên Cuồng thuộc thập niên 10
và 20 bên Pháp), rồi Art Nouveau (Tân Mỹ Thuật), đối chiếu với Jugendstil bên
Đức và Áo (Gustav Klimt, Egon Schiele), mà nội dung và kỹ thuật trước tác, màu
sắc, bố cục, đã chuyển dần tới những sắc thái mới mẻ xoá bỏ ranh giới của hiện
thực ngoại tại. Mỹ thuật từ từ lồng ghép với sáng tạo trang trí, với thơ và tâm
lý học.
Hội Hoạ Hiện Đại Cổ Điển (Modernisme Classique) của đầu thế kỷ XX đánh
dấu một giai đoạn tranh chấp, chống đối giữa mỹ thuật tạo hình (art
figuratif) và mỹ thuật không-tạo hình (art non-figuratif), giữa
hiện thực và trừu tượng. Tranh Matisse mới mẻ, hoan hỉ hoà hợp màu sắc. Tranh
Braque, Picasso, Delauney, Marcel Duchamp, Fernand Léger của Cubisme (Hệ Phái
Lập Thể) phá hình thể để trước tác một thể sắc khác, một trật tự nhân tạo hoá
giải, mà các hệ phái khai phóng như Futurisme (Viễn Lai) của Umberto
Boccioni, Carlo Carrà, Dadaisme (Đa-Đa) của Tristan Tzara, Marx Ernst, Man Ray
và Surréalisme (Siêu Thực) của Paul Delvaux, René Magritte, Yves
Tanguy, Giorgio De Chirico và Salvador Dalí dần dần đưa đến chiều hướng
Déconstruction (Phá Thể-Tái Cấu Trúc) của nửa sau thế kỷ XX.
Người làm nghệ thuật muốn đẩy tạo tác tới mức sáng tạo toàn diện, mà con người
giữ vai trò phối hợp tái tạo. Modigliani, Chagall đem chân dung nhân bản tới
kích thước và vị trí bay bổng, hướng thượng. Paul Klee, Miró giản dị hoá khuôn
mặt người, vị trí sinh vật, để tạo thành những hình thể màu sắc căn bản, gốc
nguồn. Vai trò giải phóng màu sắc của các hoạ sĩ hiện đại, từ Henri Matisse tới
Georges Rouault và Raoul Dufy đã đem lại cho họ biệt danh “hoạ sĩ dã thú”
(fauves, fauvisme) khi hoán dụ những tác phẩm bóng bẩy này với màu sắc của
các thú vật rừng rú. Piet Mondrian, Wassily Kandinsky tiếp tục khai phóng màu
sắc tới vị trí tác động ưu thế độc diễn trong bố cục khai mở của bức tranh. Hội
hoạ hiện đại tiếp tục dịch biến từ mỹ thể, chất liệu tới kỹ thuật tác tạo. Tác
phẩm mỹ thuật ngày hôm nay chú trọng nhiều tới trào lực và kỹ thuật sáng tác (dynamique
de création): người xem tranh, ngắm tượng có dịp “hội nhập sáng tạo” để
cùng tác giả bước vào cuộc hành trình tạo tác. Người xem tranh, ngắm tượng có
triển vọng trở thành “đồng tác giả” của tác phẩm hậu ảnh, trùng khởi từ tác
phẩm gốc. Như người soi gương, độc giả, người xem tranh sẽ thấy mình (tác phẩm
trùng khởi) qua hình ảnh xuyên chiếu (réflexion spéculaire) trong
gương (tác phẩm gốc).
Khi vẽ tranh, tôi nghiêng về trường phái trừu tượng để màu sắc linh động chuyên
chở và khởi sắc tâm cảm của người vẽ. Cũng như trong thơ tôi, tranh tôi vẽ
thường cô đọng thành trừu tượng, ghi lại cái căn nguyên của màu hồng trên môi,
màu bạc của ánh sáng trên mặt nước, mà không vẽ người, không vẽ cảnh; như chỉ
vẽ sức bay bổng, màø không vẽ cánh chim, thân chim. Tranh của tôi có thể gọi
tạm là “tâm cảnh”, là nét bay bổng, qua sự phối hợp và nhịp độ của màu sắc, của
ánh sáng và bóng tối trong tâm hồn con người.
Khi tôi làm tượng đúc xi-măng, như bức hình trạm nổi (bas-relief) Âu
Cơ, Một Mẹ Trăm Con tại bức tường giữa khu Tân Định, Sài-Gòn, như Hand of
Hope (Bàn Tay Hy Vọng) tại Pendleton, San Clemente, California, tôi
nghiêng về khuynh hướng biểu tượng, dùng hình thể, chất liệu để nói lên một
hình ảnh ẩn dụ trong đó. Âu Cơ, Một Mẹ Trăm Con tiêu biểu cho truyền thống sinh
lực dân tộc; Hand of Hope tiêu biểu cho sức vươn lên của Thế Hệ Việt
Trẻ tại Hải Ngoại và trong Nước. Khi gia đình chúng tôi tới định cư tại Hoa Kỳ,
qua trạm tiếp cư Camp Pendleton, tại San Clemente, California, Tướng Graham, vị
Chỉ Huy Trưởng Quân Trại Thủy Quân Lục Chiến này đã mời tôi kiến tạo một bức
tượng để kỷ niệm cuộc tị nạn vĩ đại đầu tiên của Người Việt tại Hoa Kỳ. Tôi
phác hoạ rồi thực hiện trong vòng hai tháng bức tượng Hand of Hope (móng
kiến trúc sâu tám feet, chiều cao bức tượng khỏi mặt đất chín feet) để tiên
đoán và hình dung sức vươn lên của các thế hệ trẻ, con cháu của những Người
Việt Tị Nạn đã hy sinh tất cả để tìm tự do và gây dựng tương lai cho con cái
họ. Bức tượng này đã trở thành một Đài Kỷ Niệm của Chính Phủ Liên Bang (Federal
Monument) liên quan tới cả
trăm ngàn Người Việt Tị Nạn qua mạn California…
19. HỒ TRƯỜNG AN: Xin Anh cho
biết về sinh hoạt báo chí, văn hóa anh đeo đuổi tới ngày hôm nay? Quan niệm của
Anh về những sinh hoạt này?
LƯU NGUYỄN ĐẠT: Tôi đã từng làm Chủ Nhiệm Sáng Lập kiêm Chủ
Bút các Tập San Carrefour (1960, Đại học Văn Khoa Saigon); Group
Creation (1976, Michigan State
University); Cỏ Thơm (1996,
Virginia), Tư Tưởng Việt
(2003, Virginia).
Riêng về trường hợp của Cỏ Thơm, căn cứ vào nhu cầu thiết thực, từ năm
1995 tôi đã tỏ ý thành lập một cơ quan ngôn luận chuyên về văn học nghệ thuật,
biên khảo, sáng tác tại Vùng Hoa Thịnh Đốn. Tôi đã chia sẻ dự tính đó với Thi
Sĩ Anh Độ Đỗ Cẩm Khê, với Văn Thi Sĩ Hà Bỉnh Trung, rồi đề nghị tên tờ báo là
Cỏ Thơm với ý nghĩa và tôn chỉ của một sinh hoạt văn học dấn thân, nhập cuộc
bằng đức hạnh và danh dự của người trí thức. Trong giai đoạn sáng lập, tôi nhận
làm Chủ Nhiệm, Văn Thi Sĩ Hà Bỉnh Trung làm Chủ Bút. Sau một thời gian ngắn, Cỏ
Thơm mời Văn Thi Sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dung làm Phó Chủ Bút, Thi Sĩ Đỗ Tràng Mỹ
Hạnh làm Tổng Thư Ký, Thi Sĩ Nguyễn Đăng Tuấn làm Tổng Thư Ký Đặc Nhiệm (giao
tế với văn giới, nhất là văn giới trẻ) và lập một Ban Chủ Biên gồm có các văn
thi sĩ, biên khảo gia uy tín hợp tác thường xuyên với Cỏ Thơm, như Nguyễn Ngọc
Bích, Trương Anh Thụy, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Hà Bỉnh Trung, Hồ Trường An, Lưu
Nguyễn Đạt, Vi Khuê, Trần Bích San, Ngô Tằng Giao, Phạm Ánh-Bích, Vân Nương, Lê
Thị Nhị, Nguyễn Hồng Thủy, Vũ Hối, Cao Mỵ Nhân, Nguyễn Tường Vân, Nguyễn Đức
Vinh, Vân-Trình Nguyễn Văn Lượng, Nguyễn Lân, Nguyễn Cao Quyền, Nguyễn Văn Thành,
Sương Mai, Phan Khâm, Kim Vũ, Trần Quán Niệm, Trần Quốc Bảo, Hà Kỳ Lam, Đăng
Nguyên, Việt Bằng, Phan Anh Dũng v.v. Ngoài ra, còn nhiều văn thi sĩ khác tại
Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu tiếp tục gửi bài tới Cỏ Thơm trong suốt 10 năm qua như
các văn thi sĩ Bình Huyên, Đỗ Bình, Mạnh Bích, Lê Trọng Quát, Trịnh Hưng v.v.
Tới ngày hôm nay, vào khoảng trên dưới một trăm văn thi sĩ, biên khảo gia sinh
hoạt chung với Cỏ Thơm. Kể từ năm 2001, văn thi sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dung nhận
làm chủ bút. Tới năm 2003, vì bận việc tổ chức Tập San Tư Tưởng Việt,
nên tôi đã đề nghị Văn Thi Sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dung đứng ra đảm nhậm công việc
quản trị Cơ Sở Cỏ Thơm.
Công việc làm của Cỏ Thơm là thiết lập
một cơ sở văn học đứng đắn, trân trọng, mở rộng đón mời những văn thi hữu cùng
quan điểm xây dựng tới chia sẻ hào khí văn học, đồng thời đóng góp khả năng
trong ba địa hạt chính của Cỏ Thơm: (1) nghiên cứu, biên khảo, (2) trước tác
văn thơ, (3) so sánh văn hoá, trước tác quốc tế, để phát huy tư tưởng nhân bản
và các giá trị cao đẹp của Nền Văn Hoá Việt Nam. Mục đích của anh chị em chủ
trương Cỏ Thơm là tạo dựng nhịp cầu chuyên chở, qua sinh hoạt văn học, cái hào
hứng và trào lực nội tâm của Nền Văn Hoá Việt tới những Người Việt cùng tâm
huyết, và nhất là tới các thế hệ trẻ, các thế hệ có cơ hội lẫn trọng trách tạo
dựng tương lai và tư cách của họ đối với nguồn gốc và truyền thống Việt nói
riêng, đối với nhân loại nói chung. Do đó, Tôn Chỉ của Cỏ Thơm luôn luôn gồm có
ba trọng tâm: Tôn Trọng Sự Thật. Quý Trọng Nhân Phẩm. Trân Trọng Sáng Tạo.
20. HỒ TRƯỜNG AN: Xin Anh cho
biết Anh có sinh hoạt gì trong phạm vi âm nhạc, điện ảnh? Anh thích những giọng
hát nào, nhạc sĩ nào?
LƯU NGUYỄN ĐẠT: Hơn 60 bài thơ trong những thi phẩm kể trên (VÙNG
CAO NƯỚC ẨN, HỒN NƯỚC, CA TỤNG NIỆM) đã được một số nhạc sĩ phổ nhạc,
trong đó có Nhạc Sĩ Nguyễn Túc (với hòa âm của Nhạc Sĩ Văn Phụng và Nhật Bằng),
các Nhạc Sĩ Linh Phương, Anh Huy, Vũ Kinh Bang, Hoàng Thiện Căn, Phùng Thị
Hạnh, Nguyễn Triệu Vinh. Riêng Triệu Vinh đã phổ nhạc 15 bài thơ của tôi, đúc
kết thành một CD lấy tên Triền Miên, với hoà âm và thực hiện thu âm bởi Nhạc Sĩ
Trần Đức Nam (Philadelphia).
Đó là hai nhạc sĩ trẻ thật tài giỏi, mà tôi rất quý mến. Những ca sĩ tôi ưa
thích nhất có lẽ vẫn là Khánh Hà, Tuấn Ngọc và một số ca sĩ trẻ trong nước, với
những kỹ thuật rất điêu luyện.
Trong ngành điện ảnh, tôi có dịp đóng trong phim Đất Khổ (1971-72) với
các Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, các Nữ Diễn Viên Bích Hợp, Kim Cương,
Xuân Hà, Vân Quỳnh, Bé Bạch Lý, Tài Tử Minh Trường Sơn, cùng Đạo Diễn Hà Thúc
Cần. Cuốn phim này không được trình chiếu tại Việt Nam, nhưng sau này, được ra
mắt nhiều lần tại Pháp và Hoa Kỳ, tại Virginia (Đại Học George Mason), Hoa
Thịnh Đốn (Trung Tâm Kennedy), Maryland (Đại Học Maryland)
v.v. Cuốn phim Đất Khổ mô tả giai đoạn Tranh Đấu Phật Giáo lồng ghép vào cuộc
giao chiến Quốc-Cộng, mà Dân Tộc Việt được”chọn làm thí điểm và thí vật cho kế
hoạch Toàn Cầu Hoá dưới hình thức siêu quản trị kỹ thuật, kinh tế, quân sự và
chính trị viễn kiểm (remote control). Dân Tộc Việt tới nay vẫn chưa
tìm thấy phương thức tự cứu lấy thân phận mình, nên thấy cần có những cuốn phim
tiếp nối: Đất Khổ II, III…cho tới khi có thuận hoà, thịnh vượng, hạnh phúc thực
sự tại mảnh Đất-Hết-Khổ này. Nếu có dịp, tôi mong được hợp tác với các nhà đạo
diễn, sản xuất điện ảnh nhân bản như Trần Song Thu & Đan Thúy Vy (Paris,
France), Tony Bùi (California, USA), Lưu Việt (New York, USA).
21. HỒ TRƯỜNG AN: Dự định sáng
tác của Anh trong tương lai ra sao?
LƯU NGUYỄN ĐẠT: Tôi tiếp tục làm công việc vận chuyển những
giá trị tinh thần của Nền Văn Hoá Việt, Tư Tưởng Việt tới tay và tấm lòng các
thế hệ trẻ. Tôi mong muốn tham dự phần nào vào công việc đặt móng xây dựng
những công trình văn học nghệ thuật sáng tạo cao đẹp mà các thế hệ con cháu
chúng ta tạo dựng ngay tại Nước Nhà, hoặc biểu dương tại Hải Ngoại. Muốn tiếp
nối xây dựng những cơ sở văn hoá đó, cần nuôi dưỡng ngay bây giờ những Tấm Lòng
Việt tử tế thuận hoà, những Tâm Hồn Việt thông minh chân chính và đồng thời tạo
dựng những Bàn Tay Việt khéo léo, khoẻ mạnh, kiên dũng để tự mình, tự tay thực
hiện những viễn kiến cao đẹp đó. Hai năm nay, diễn đàn & điên báo Việt
Thưc [www.vietthuc.org] đang vận
động theo hướng sáng tạo xây dựng này.
HỒ TRƯỜNG AN: Xin cảm ơn Anh Lưu
Nguyễn Đạt.
LƯU NGUYỄN ĐẠT: Xin cảm ơn Anh Hồ Trường An.
Cập nhật December 4,
2011

