Một Đêm Kinh Hoàng
(Viết tặng cụ Võ Tử Đản)
Đêm
kinh hoàng là một chuyện có thật đã xảy ra tại làng Văn Quỹ thường gọi là Kẻ
Văn, tổng An Thơ, phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Làng tôi là Hưng Nhơn, thường
gọi là Kẻ Vịnh tiếp giáp với làng Kẻ Văn:
“Kẻ Văn, Kẻ Vịnh bao xa,
Chỉ cách cái hói ngăn đôi 2 làng”
Hói là con sông nhỏ. Con sông này là một nhánh
nhỏ của sông Ô Lâu, bắt đầu từ cuối làng tôi chảy ngược lên dọc theo làng tôi
rồi chảy qua ranh giới Kẻ Văn, Kẻ Vịnh, chảy ra đồng ruộng làng tôi rồi ra làng
Cây Da, sinh quán của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể…Giáp giới với làng tôi
là An Thơ, làng này nằm trên sông Ô Lâu, đối diện với Vịnh An thuộc tỉnh Thừa
Thiên, vì con sông Ô Lâu là ranh giới Quảng Trị – Thừa Thiên.
Hồi
đó, Pháp có một đồn do khoảng 1 trung đội đóng ở U Điềm, đối diện với Kẻ Văn,
bên kia sông, cách đồn lớn ở Mỹ Chánh độ 5 cây số. Ngoài ra, còn đồn An Thơ, do
một trung đội Bảo Vệ Quân của Việt Nam trấn đóng. Nhờ 2 đồn này, khu vực Hải Lăng rất an
ninh, dân cư trù phú, ruộng đồng bát ngát, một cuộc sống rất thanh bình. Nhưng
khi đồn An Thơ rút lui thì Việt Minh thường xuất hiện ban đêm, lực lượng chống
Việt Minh có Hương vệ mỗi làng “khí giới” chỉ là mác lào, kiếm v.v… Tuy vậy,
thỉnh thoảng quân đồn U Điểm cũng băng qua sông vào hành quân làng Kẻ Văn, hoặc
băng qua cầu giữa làng tôi và làng Hòa Viện để lục soát làng tôi và những làng
lân cận, do đó, Việt Minh cũng không dám xuất hiện thường xuyên, còn ban ngày
thì hoàn toàn yên ổn.
Bà
chị đầu của tôi gả cho một người ở làng Kẻ Văn, con của một Thượng Sĩ Bảo Vệ
Quân lúc đó đóng ở đồn Ba Giốc. Mẹ tôi “không đòi hỏi bất cứ điều gì, miễn luôn
lễ hỏi, chỉ muốn ông sui về để biết mặt con dâu trước khi cưới để biết mặt con
dâu”. Sau này, mẹ tôi rất hối hận vì điều kiện này. Nhưng bên nhà trai chấp
nhận.
Sáng
hôm đó, ông Thượng Sĩ Hòa đã về phép và đến thăm nhà tôi, dùng bữa trưa với gia
đình tôi rồi về lại Kẻ Văn. Và tối hôm đó, ngay xóm của ông Hòa, có nhiều tiếng
la cầu cứu, có một vài tiếng súng nổ. Cả nhà tôi thức dậy và rất lo lắng, vì
biết đó là Việt Minh “về làng”, và tiếng khóc la không gì khác hơn là có người
bị Việt Minh giết, như chúng đã giết nhiều người ở quanh vùng đó, nhưng khu vực
này thì đâu là lần đầu tiên. Có lẽ thân phụ ông Võ Tử Đản cũng bị nạn trong
thời gian này. Tôi nhớ rõ hôm đó là đêm Thứ Năm, vì sáng Thứ Sáu linh mục làm
lễ họ tôi (họ nhánh), mỗi tuần một lần vào ngày Thứ Sáu. Vừa nghe gà gáy, chị
tôi đã nói với tôi: “Em chạy lên xem ông Hòa có bị gì không rồi về ngay cho chị
hay gấp”. Tôi chỉ chờ có thế, vì tính tò mò muốn biết “có chuyện gì xảy ra”
nhưng chưa được lệnh của mẹ. Do đó, nghe chưa dứt lời chị, tôi đã chạy như bay
lên Kẻ Văn, khoảng đường chỉ khoảng 1 cây số. Vừa đến đầu kiệt, tôi gặp ngay
thằng Thoại, em ruột ông anh rễ tương lai của tôi, nó cho biết cha nó bình yên
và đã đi hồi khuya rồi. Nói xong nó kéo tôi đi “xem Việt Minh giết người”. Nạn
nhân đầu tiên mà tôi chứng kiến là ông Rằm. Đầu ông Rằm văng ra một nơi, mình
ông một ngã, máu chảy lênh láng, tiếng gia đình khóc lóc nguyền rủa, nhiều
người chạy đến nhưng chưa ai động đến xác ông Rằm, vì thế tôi mới có dịp chứng
kiến hiện trường còn nguyên vẹn. Tôi rùng mình ghê sợ, nhưng tôi không sợ, tôi
nhìn vợ con ông Rằm đang khóc lóc khiến tôi cũng chảy nước mắt hồi nào không
hay.
- Đi, đi qua đây coi chú Hiệp cũng bị chúng chặt
làm đôi.
Chỉ cách nhà ông Rằm khoản 30 thước, chú Hiệp
khoảng 25 tuổi, bận chiếc áo cánh quần đùi, nằm nghiêng chết bên cái ao, chân
còn ở mé nước, mình bị chặt làm đôi ở thắt lưng, 2 phần thân thể đã rời nhau,
máu nhuộm đỏ cả ao, vì trời chưa sáng hẳn, tôi không nhìn được mặt, mọi người
xúm quanh anh ta, vừa đọc kinh, vừa khóc lóc. “Ác quá!”. Đó là lời nói đầu tiên
của tôi kể từ khi đặt chân lên Kẻ Văn. Nhìn kỹ tôi thấy hạ phần chú Hiệp có một
ít ruột trào ra khỏi mình. Nạn nhân thứ 3 là ông Trưởng đoàn Hương Vệ. Ông này
còn sống và được gia đình đưa vào nhà băng bó cùng mình nên tôi không thấy vết
thương, nhưng sau đó, tôi được biết ông cũng chết vì máu ra nhiều quá. Khi tôi
muốn trở về “báo cho chị biết ông Hòa vẫn bình yên” thì chị và anh rễ tôi ở sau
lưng tôi tự bao giờ, thì ra, chị tôi “quá nóng ruột” đã chạy lên nhà anh tôi,
và 2 người đi… kiếm tôi.
Thực
là kinh hoàng, thục là tàn bạo. Ông Rằm là một người cao lớn, không có võ nhưng
rất mạnh. Ông ta chỉ có mỗi một tội, đó là khi ông nghe tin “tự vệ Việt Minh” bắt
cóc người em rễ của ông ta buộc phải theo chúng. Ông ta cầm mác lào (vũ khí thô
sơ, giống mũi mát, được cắm vào một khúc tre nhỏ dài độ 1 mét rưỡi hay 2 mét)
theo dấu chúng và đã gặp em rễ lúc 6 du kích đang cố gắng nhận nạn nhân xuống
vũng bùn. Vì người này nhất định không theo chúng. Ông Rằm chỉ múa mác lào lên
là cả bọn đều bỏ nạn nhân mà chạy, vì chúng biết sức mạnh của ông Rằm, dù chúng
cũng có vũ khí như ông, lại những 6 đứa. Ông cõng em rễ về và giao cho em gái,
ông khuyên nên “trốn vô Huế cho khỏe, tao sẽ tiếp tế cho”.
Nạn
nhân thứ 2 là anh Hiệp, con trưởng của ông Rằm, khi nghe cha bị giết, anh vội
nhặt cây mát lào chạy đến cứu, vừa đi được nửa đường (khoảng 15 mét) anh bị
Việt Minh phục sẵn, chém anh một nhát vào chân, vừa ngã xuống anh bị cả bọn xúm
dằng ra và tên đao phủ chỉ chém một nhát là đứt đôi người. Hai phần thân thể
“cách biệt ” nhau có lẽ vì thân anh năm trên bờ dốc của ao, lại bị chúng nằm
đầu dằng ra nên hai phần thân thể rời ra.
Nạn
nhân thứ ba là Đoàn Trưởng Hương Vệ. Khi nghe biết Việt Minh vào nhà ông Rằm,
ông này đã cầm kiếm chạy ra khỏi nhà với ý định chạy trốn, nhưng bị Việt Minh
phát giác, chúng xúm lại đánh và anh này cũng chống cự, vì thế đã bị chúng đâm
nhiều nhát, bị nhiều vết thương nặng. Nghe vợ con khóc lóc, ông ta gượng nói
“Anh chưa chết, đừng khóc”. Việt Minh nghe được nên trở lại. Lần này, tên đao
phủ bị vợ nạn nhân lăn xả vào cứu chồng, xé nát cái áo mới tên này đang mặc,
quyết sống chết với nó nên đồng bọn khuyên tên này bỏ nạn nhân.
Vì
nhà ông Rằm đang làm lại, nhà mới dở ra, cả nhà chỉ che một cái chòi tạm bợ
trong khi cất nhà. Việt Minh “tấn công vào nhà” khi ông Rằmg đang ngũ vì đêm
đó, ông có uống hơi nhiều ruợu nên dễ bị chúng khuất phục, chúng kéo ông ra và
đè nằm xuống, đặt cổ ông kê lên cái trính nhà và “chặt”.. Người ta nói nếu ông
không say rượu, tối thiểu cũng lấy được vài mạng Việt Minh.
Hình
ảnh ông Rằm đầu một nơi, mình một ngã, chú Hiệp thì xác bị chia đôi, nhất là
những vũng máu ở sân nhà các nạn nhân, nhất là máu chú Hiệp loang đỏ cả cái ao
nhỏ độ 10 mét vuông, làm tôi không dám nhìn cả những cốt trầu của các bà nhổ
ra. Đó là hình ảnh Việt Minh. Là một người dưng nước lả và lúc đó tôi chỉ là
một đứa bé, nhưng lòng tôi quặn đau như chư nạn nhân là ruột thịt của tôi. Tâm
trạng này mọi người đều đau khỗ như vậy, đầu ón trách Việt Minh. Đêm kinh hoàng
này còn kéo dài trong vùng tôi ở nhiều ngày và sau này.
Kiêm Ái
Quân sử Việt Nam