Hội Nghiên Cứu Sử Học Việt Nam tại Âu Châu
Việt Nam Sử Lược phần 1 từ thời lập quốc cho đến năm 1955;
Việt Nam Sử Lược Phần 2 Từ 1955 Đến 1973;
Việt Nam Sử Lược Phần 3 Từ 1973 Đến 2012Việt Nam Sử Lược Phần 3 Từ 1973 Đến 2012Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc biên khảo

- Lichsuvietnam cận đại ghi ngày hiệp-định Ba-Lê có
hiệu lực, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ghi nhận có hơn 1000 vụ vi phạm
của Việt cộng. Ngoài ra, trong suốt năm 1973 còn có 5 trận giao tranh
lớn xảy ra ở Cửa Việt, Sa Huỳnh, Hồng Ngự, Trung Nghĩa và Tống Lê Chân.
- Trong đó căn cứ Tống Lê Chân bị quân Việt
cộng tấn công ngay ngày hiệp định Paris có hiệu lực (28/01/1973), người
anh hùng tử thủ là Trung tá Lê Văn Ngôn cùng Tiểu đoàn 92 Biệt Động
Quân Biên Phòng. Để dứt điểm căn cứ này, quân Việt cộng phải huy động
Công trường 9, cùng trung đoàn 271, một Trung đoàn pháo, một Trung đoàn
phòng không cũng như một Lữ đoàn xe tăng. Chưa kể quân trừ bị và chận
viện. Cuộc chiến dứt điểm bắt đầu từ 05/04/1974 đến 1 giờ sáng ngày
13/04/1974 mới chiếm được đồn.
Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng và Trung
tá Lê Văn Ngôn chỉ còn 259 binh sĩ đã chiến đấu đến cùng và phải mở
đường máu rút lui.
Căn cứ Tống Lê Chân bị quân Việt cộng tấn công
dồn dập trong 512 ngày. Tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng và Trung
tá Lê Văn Ngôn đã làm sáng danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và xứng
đáng là những chiến sĩ chiến đấu cho Hòa bình. Hòa bình của đất nước
Việt Nam thân yêu.
Sau khi đem đơn vị về đến An Lộc, Trung tá Lê
Văn Ngôn được cử đi học khoá Tham Mưu Trung Cấp được cử về Sư Đoàn 5 Bộ
Binh ở trách nhiệm trung đoàn phó. Sau ngày 30/4/1975, Trung tá Ngôn
cũng như biết bao chiến sĩ khác, lọt vào tay giặc và bị đưa ra miền
Bắc. Một tối mùa thu 1977, ông lặng lẽ qua đời tại liên trại Yên Báy.
Nhà văn quân đội Phan Nhật Nam đã đem người đàn em vắn số của mình ra
mộ huyệt chôn cất. Lê Văn Ngôn là anh hùng dân tộc trong lichsuvietnam
cận đại.
- Mao Trạch Đông chủ tịch nước Cộng hòa Nhân
Dân Trung Hoa ra lịnh cho quân đội Trung cộng tấn chiếm Hoàng Sa Trường
Sa của Việt Nam Cộng Hòa ngày 17 tháng 1 năm 1974.
- Vào lúc 10 giờ sáng ngày 19 Tháng 1 năm 1974,
hạm đội Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa dưới sự chỉ huy của Đại tá Hà Văn
Ngạc đã đồng loạt nổ súng vào chiến hạm của Hải quân Tàu cộng khi họ
hành động xâm chiếm đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Sau nửa tiếng đồng hồ giao tranh thì hai bên
đều rút lui vì hai bên đều thiệt hại nặng cả. Bên HQVN chiếc Nhật Tảo
bị chìm, tử thương 58 người (đa số thuộc chiến hạm Nhật Tảo và số còn
lại thì gồm có hai người nhái trên đảo). Mỗi chiến hạm có một số bị tử
thương. Phía Tầu Cộng cũng bị thiệt hại nặng nề, một chiếc bị chìm,
về nhân mạng có một số sĩ quan cao cấp bị tử thương, thành ra không thể
nói bên nào chiến thắng hay chiến bại. Trong lúc đó một lực lượng hùng
hậu gồm 17 chiến hạm khác từ Hải Nam đang hướng về hướng Hoàng Sa,
trong đó có 13 chiến hạm với bốn chiếc tiềm thủy đỉnh loại tàu ngầm .
Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa có tăng cường thêm
hai chiếc nữa tức là sáu chiếc, nhưng khi hai chiếc sau đang trên
đường tới thì có tin phi cơ phản lực của Trung Cộng từ đảo Hải Nam đến
dội bom. Trong khi đó tầm hoạt động của phi cơ F5 và A37 của Không
Quân Việt Nam Cộng Hòa không thể nào bay tới Hoàng Sa được, để tránh
thiệt hại không cần thiết hạm đội Việt Nam Cộng Hòa phải bắt buộc rút
lui.
Quân chủng Hải Quân đã chọn ngày 19/1 hằng năm
làm ngày tưởng niệm và vinh danh các chiến sĩ HQ đã hy sinh bảo vệ Tổ
quốc đại dương.
Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là Tư Lệnh Hải Quân
vùng I Duyên Hải yêu cầu Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ cứu vớt người trên
biển. Khi sự việc xảy ra rồi, không có chiến hạm nào của Mỹ đến cứu
vớt.
Trong dòng lichsuvietnam thập niên 70 đã ghi
nhận Hải chiến Hoàng sa của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa chống lại quân
xâm lược Trung cộng là một trong những trận hải chiến lớn nhất, có tầm
vóc lịch sử nhất.
- Khi Tầu cộng xâm lăng Hoàng sa của Việt Nam
Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở miền Bắc đã hoàn toàn im lặng
không có một phản ứng nào. Họ âm thầm đàm phán về biên giới với Tầu
cộng từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1974 nhưng không đạt được một kết quả
nào.
- Đến đầu năm 1975, gần hai năm sau Hiệp định
ngưng bắn, tình hình Việt Nam ở trong giai đoạn lạ lùng, không hòa cũng
không chiến.
Ông Henry A. Kissinger, Cố vấn an ninh của Tổng
thống Nixon, tác giả Hiệp định Paris, được lãnh nửa giải hòa bình
Nobel đồng thời thăng chức Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ; còn Tổng thống
Nixon phải từ chức vì vụ tai tiếng Watergate; ông Gerald Ford cầm đầu
khối đa số Hạ viện Mỹ được cử thay thế.
Uy tín Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn
Thiệu ngày càng sa sút, Ngoại trưởng Trần Văn Lắm lãnh chức Chủ tịch
Thượng viện.
- Đầu năm 1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã
kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu theo kiểu quân đội nhà
nghèo. Nhưng từ hai năm qua, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã không được
cải tổ để thích ứng với tình hình chiến trường mới.
- Các Sư đoàn tổng trừ bị như Thủy Quân Lục
Chiến, Nhảy Dù được cử trấn giữ các vùng đất như binh sĩ sư đoàn Bộ
Binh làm mất tính năng động cần thiết khi tình hình chiến trường sôi
động.
- Quân khu V của Việt cộng tổ chức chiến dịch
H-9 tấn công hai địa điểm Nông-Sơn và Thượng Đức thuộc tỉnh Quảng-Nam.
Họ tung vào các Sư đoàn 324B (hay Sư đoàn Điện Biên), 308, và Sao vàng.
Ngày 06/08/1974, Thượng-Đức thất thủ. Tiểu
đoàn 79 Biệt Động Quân đã rút khỏi nơi này. Số phận của Tiểu đoàn này
cũng giống như tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân khi rời khỏi căn cứ Tống Lê
Chân, những binh sĩ anh dũng này đã không được nhắc đến tên tuổi...
Bộ tổng tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa gởi Sư đoàn Nhảy Dù ra Quảng-Nam tăng viện, nhưng đã quá trễ.
Các trận đánh ác liệt đã xảy ra giữa Sư Đoàn Nhảy Dù và 3 sư đoàn Việt cộng diễn ra trên các cao điểm 1235 và 1062. Trận
đánh khởi sự từ ngày 15 Tháng Tám đến ngày 8 tháng mười một năm 1974.
Đây là trận đánh lớn nhất trong quân sử Việt Nam sau khi Hoa Kỳ rút
lui, và cũng là một trong những trận hiển hách nhất của QLVNCH. Cuối cùng quân Việt cộng đã phải rút khỏi đồi 1062 trước sức chiến đấu dũng mãnh và gan dạ của các chiến sĩ Nhảy Dù.
Sau khi Hoa Kỳ rút quân, viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hoà như sau:
-Tài khoá 1973 : hai tỷ mốt (2,1 tỷ)
-Tài khoá 1974 : một tỷ tư (1,4 tỷ)
-Tài khoá 1975 : bẩy trăm triệu (0,7 tỷ).
Nghĩa là ngày càng giảm thiểu.
Và đưa đến hậu quả là : Ngân khoản 700
triệu chỉ cung cấp được phân nửa nhu cầu tối thiểu của quân đội VNCH,
trong năm 1975 hoạt động quân sự của Việt cộng gia tăng 70% hơn năm trước. Sau khi trừ đi 46 triệu cho USDAO, số tiền còn lại được chia ra như sau:
- Không quân: Cần 414 triệu; nhận 183 triệu – 44% ngân khoản yêu cầu.
- Lục quân: Cần 841 triệu; nhận 458 triệu - 54% ngân khoản yêu cầu.
Như vậy, từ số tiền 1 tỉ 283 triệu của ngân
sách quân viện năm 1975, VNCH chỉ được 654 triệu – chỉ bằng 51% ngân
khoản cần thiết".
Thực trạng bi thảm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được ghi nhận vào tháng 02/1975 như sau:
Ðạn - Số ngày tồn kho
Ðạn M-16 (5.56 ly) - 31
Ðạn phóng lựu 40 ly - 29
Ðạn súng cối 60 ly - 27
Ðạn súng cối 81 ly - 30
Ðạn pháo 105 ly - 34
Ðạn pháo 155 ly - 31
Lựu đạn - 25
- Trong khi đó, về phía Việt cộng nhận được số
lượng viện trợ quân sự trong giai đoạn 1973-1975: Tổng số 724,512
tấn gồm 75,267 tấn hàng hậu cần, 649,246 tấn vũ khí trang bị kỹ thuật,
trong đó Liên Xô: 65,601 tấn, Trung Quốc 620,354 tấn, các nước cộng sản
khác : 38,557 tấn.
- Lê Đức Thọ của miền Bắc, người thương thuyết
và ký hiệp định Paris với Kissinger chối bỏ phần còn lại của giải Hòa
bình Nobel, ông và đảng cộng sản Việt Nam đang chuẩn bị ráo riết cuộc
xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.
- Sau khi ký Hiệp định Paris, Hà Nội cho khởi
công xây tuyến đường xa lộ Ðông Trường Sơn hay hành lang 613, song song
với đường mòn Hồ Chí Minh nhưng nằm trong địa phận Việt Nam Cộng Hoà
từ Ðồng Hới cho tới Lộc Ninh, đến đầu năm 1975 thì công trình hoàn
thành dài 1,200 km. Dọc theo Ðông Trường Sơn là hệ thống dẫn dầu từ
Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh. Bắc Việt huy động hàng nghìn xe
máy ủi, hàng vạn bộ đội, công nhân, thanh niên xung phong, dân công ..
ngày đêm phá núi san đèo, xây cống, lắp đường, dựng cầu.. đường rộng 8
m.. xe vận tải cỡ lớn chạy hai chiều được, ngày đêm chở hàng trăm nghìn
tấn đạn dược quân nhu cho chiến trường. Họ đã xử dụng 16 ngàn xe vận
tải để chuyên chở binh khí, kỹ thuật, đạn dược, lương thực… chuẩn bị
cho chiến trường miền Nam trong hai năm 1973 và 1974. Chiều dài toàn bộ
hệ thống chiến lược Trường Sơn tới 1975 là 16 ngàn km gồm 5 hệ thống
đường trục dài 5,500 km, 21 đường trục ngang dài 1,020 km, một đường
hệ thống dẫn dầu dài 5,000 km.
- Theo một cựu trung tá không quân Việt Nam
Cộng Hoà cho biết đường xâm nhập của Việt cộng hiện rõ trên bản đồ
nhưng miền Nam không đủ lực lượng để ngăn chặn, đồng thời Hoa Kỳ ngăn
cản không cho không quân VNCH đánh phá, họ đe doạ cắt viện trợ nếu
không nghe theo. Một số nhà nghiên cứu, giới chức quân sự cho rằng viện
trợ quân sự của Nga, Trung Cộng cho miền Bắc năm 1975 gấp 3 hoặc 4 lần
năm 1972. Sự thực thì không phải như vậy, số lượng vũ khí đạn dược năm
1975 của CSBV nhiều gấp bội lần năm 1972 vì họ mang vào Nam được nhiều
hơn, khối lượng hàng viện trợ vũ khí đạn dược như ta đã thấy trong hai
giai đoạn này (1972 và 1975) không thay đổi mấy, coi như tương đương .
Quân Bắc xâm Việt cộng mở chiến dịch tấn công
Phước Long làm bàn đạp tấn công thủ đô Sài Gòn. Họ mở hai mũi tấn công
vào mặt đông bắc thành phố Tây Ninh với trung đoàn 205; đồng thời tấn
công pháo kích đơn vị Địa Phương Quân trấn thủ trên núi Bà Đen; 3 trung
đoàn 33, 812, 274 thuộc sư đoàn 6 vc tấn công hai quận Hoài Đức và
Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Tuy. Đây là các trận đánh hỏa mù để cầm chân
những lực lượng tinh nhuệ của quân đoàn III Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Ngày 26/12/1974, quân Việt cộng tấn công thị
xã Phước Long và phi trường Sông Bé. Đồn trú nơi đây có Tiểu đoàn 2
trung đoàn 7 Sư đoàn 5 Bộ binh, ba đại đội Thám báo của các sư đoàn 5,
18, 25, cùng những đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân quân số vào khoảng
6000 người. Trong khi chiến trường đang căng thẳng, các đơn vị trú
phòng tại đây được tăng viện thêm đại đội 1 và 4 thuộc Liên Đoàn 81
Biệt Cách Dù. Hơn sáu ngàn binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa phải chống lại một
lực lượng tấn công đông gấp ba lần. Các đơn vị Việt cộng tấn công gồm
hai sư đoàn 3 và 7, hai trung đoàn biệt lập, hai trung đoàn pháo và
phòng không cùng với một trung đoàn chiến xa, tất cả đặt dưới quyền
điều khiển của quân đoàn IV Việt cộng.
Quân lực VNCH tăng cường tối đa các phi vụ yểm trợ cho quân bạn,
nhưng sức người có hạn. Nên ngày 9/1/1975, Phước Long thất thủ.
Quân Bắc xâm Việt cộng mở chiến dịch Tây nguyên
với mục đích cắt đôi Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 10/3/1975, Việt cộng nổ
súng tấn công Ban Mê Thuột với các sư đoàn 320 Điện biên và F10. Trách
nhiệm phòng thủ có Đại tá Nguyễn Trọng Luật, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu
trưởng BMT và Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lịnh phó sư đoàn 23 bộ binh kiêm
Tư lịnh mặt trận Ban Mê Thuột. Quân trú phòng tại chỗ là Trung đoàn 53
thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh dưới quyền điều khiển của Trung tá Võ Ân. Cuộc
giao tranh đã xảy ra ác liệt ngay tại mặt trận phi trường Phụng Dực.
Ngày 11/3/1975, quân Việt cộng được tăng cường quân số lên gấp 10 lần
và đó là một ngày giao tranh đẫm máu nhất tại mặt trận phi trường Phụng
Dực. Hầm chỉ huy của Đại tá Vũ Thế Quang bị Không quân ném lầm hai
trái bom, nên đã mất liên lạc với bộ tư lịnh quân đoàn II từ phút đó.
Ngày 12/3/1975, Thiếu tướng Phạm Văn Phú Tư
lịnh quân đoàn II quyết định tăng cường binh sĩ để tái chiếm
Ban-Mê-Thuột. Trung đoàn 44 và 45 thuộc Sư đoàn 23 bộ binh đã được một
lực lượng trực thăng tới 46 chiếc HUIB và Chinook không vận vào Phước
An. Đây là cuộc hành quân trực thăng vận lớn nhất kể từ sau Hiệp định
Paris được ký kết vào năm 1973. Ngoài TĐ45BB, còn có sự tăng cường của
Liên đoàn 21 Biệt Động Quân. Cuộc tăng viện đang diễn ra tốt đẹp, trong
đó tinh thần binh sĩ các cấp lên rất cao, thì đột ngột có lịnh lui
binh sau cuộc họp ngày 14/03/1975 giữa Thiếu tướng Phạm Văn Phú cùng
Tổng thống Nguyễn văn Thiệu, Đại tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao
Văn Viên, Trung tướng Đặng Văn Quang.
Hậu quả cuộc lui binh trên tỉnh lộ 7b này là
Quân đoàn II đã bị xóa sổ, và giải tán. Tướng Phạm Văn Phú bị cách chức
rồi tự sát để giữ tròn khí tiết của một vị tướng lãnh vào ngày
30/4/1975.
Ngày 19 tháng 3/1975, Trung tướng Ngô Quang
Trưởng Tư lệnh QĐ I – QK I về Sài Gòn để gặp Tổng thống Thiệu trình bày
kế hoạch rút quân của quân đoàn. Cuộc họp bắt đầu 11 giờ, cùng với sự
hiện diện của Phó Tổng thống Trần Văn Hương. Theo ghi nhận của Tướng
Viên, kế hoạch của Trung tướng Trưởng rất chu đáo và được tiến hành
theo hai phương cách:
- Phương cách thứ nhất: Các lực lượng từ Huế và Chu Lai theo Quốc lộ 1 cùng một lúc rút về Đà Nẵng.
- Phương cách thứ hai: Nếu địch cắt Quốc lộ 1
thì sẽ rút quân về ba nơi: Đà Nẵng, Huế và Chu Lai. Tuy nhiên Huế và
Chu Lai chỉ là nơi tập trung tạm thời để sau đó các đơn vị được hải vận
về Đà Nẵng. Đà Nẵng sẽ trở thành nơi cố thủ của Sư Đoàn 1 Bộ Binh, SĐ 2
BB, SĐ 3 BB, SĐ Thủy Quân Lục Chiến và 4 Liên đoàn Biệt Động Quân.
Ngoài các đơn vị kể trên còn có Lữ đoàn 1 Nhảy
Dù cũng được tăng phái cho Quân Đoàn I với điều kiện không được sử dụng
để tung vào chiến trận.
Ngày 20 tháng 3/1975, khi vừa đặt chân xuống Đà
Nẵng, Trung tướng Trưởng nhận được một công điện "mật khẩn" của Tổng
thống Thiệu do Bộ Tổng Tham Mưu chuyển. Tổng thống Thiệu khuyên Tướng
Trưởng tùy nghi ứng phó và làm sao chỉ giữ một mình Đà Nẵng mà thôi vì
không thể nào phòng thủ nổi ba thành phố Huế, Đà Nẵng và Chu Lai cùng
một lúc được. Đồng thời Lữ đoàn 1 ND được lệnh lên đường về Sài Gòn
ngay khuya đêm đó.
Lại một lần nữa, lịnh rút quân đột ngột của
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã khiến các đơn vị thiện chiến nhất của
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng như của Quân khu I như Sư đoàn Thủy
Quân Lục Chiến, Sư đoàn 1 bộ binh, các Liên đoàn Biệt Động Quân, Địa
Phương Quân - Nghĩa Quân, Thiết Kỵ, Pháo binh v.v...bị thiệt hại trầm
trọng về nhân sự cũng như khí cụ, đưa đến tình trạng bất khiển dụng như
Quân đoàn II.
Ngày 08/4/1975, Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu Tư
lịnh phó Quân đoàn III bị ám sát ngay tại văn phòng tư lịnh phó. Và
đây cũng là ngày mặt trận Xuân Lộc - Long Khánh bùng nổ và kéo dài đến
20/4/1975. Ngày 10/04/1975, Tướng Nguyễn Văn Hiếu được tổng thống VNCH
truy thăng Trung tướng. Cố Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu bị ám sát khi
đang chuẩn bị kế hoạch phản công chống đoàn quân Bắc xâm Việt cộng bằng
kỵ binh. Cái chết đột ngột không sớm không muộn khi kế hoạch phản công
vừa hình thành hay vì một nguyên do nào khác liên quan đến việc điều
tra tham nhũng trong quân đội?
Hơn nữa cái chết đột ngột của Tướng Nguyễn Văn
Hiếu làm chúng ta liên tưởng đến việc tử nạn trực thăng của Đại tướng
Đỗ Cao Trí ngày 23/02/1971, khi ông từ vùng III đáp trực thăng đi vùng I
nhậm chức Tư lịnh quân đoàn hầu cứu vãn cuộc hành quân Lam Sơn 719
đang bị sa lầy.
Hai cái chết vào hai thời điểm nêu trên của hai
vị Tướng lãnh tài ba lỗi lạc đã khiến nhiều người trong chúng ta phải
thắc mắc: Có phải thế lực nào đó trong bóng tối nhất quyết không muốn
Đại tướng Đỗ Cao Trí và Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu trở thành cứu tinh
của Quân lực và quốc gia Việt Nam Cộng Hòa? Và từ đó đã ra tay hạ sát
hai vị Tướng này. Quả tình sự ra đi của hai vị chiến Tướng vừa nêu là
một mất mát lớn lao cho tộc Việt.
Trở lại với tình hình chiến sự khi Xuân Lộc là
căn cứ quân sự của SĐ18BB do Thiếu tướng Lê Minh Đảo làm tư lịnh bao
gồm: Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh và các đơn vị Kỷ Thuật thuộc mọi
Binh chủng của QLVNCH. Quân đoàn IV Việt cộng gồm các sư đoàn 6, 7 và
341. Ngoài ra còn tăng cường thêm sư đoàn 325 và Liên đoàn 75 Pháo binh
đủ loại.
Trên đường tiến quân về Sài Gòn, quân vc bắt
buộc phải đi ngang Xuân Lộc - Long Khánh. Cho nên trận chiến đã diễn ra
rất ác liệt giữa quân trú phòng và quân vc ngay từ những giờ phút đầu
tiên.
Ngày 12/04/1975 chiến trường Xuân Lộc được tăng cường Lữ đoàn 1 Nhảy Dù của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh.
Mũi tiến công để chiếm Sài Gòn của quân vc đã
bị khựng lại nơi đây vì gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của tất cả các
đơn vị trú phòng. Bộ tư lịnh hành quân của vc bắt buộc phải thay đổi tư
lịnh chiến trường, họ đưa Tướng Trần Văn Trà vào thay Tướng Hoàng Cầm
và đưa thêm quân tăng viện.
Quân vc dùng "chiến thuật biển người", "tiền
pháo hậu xung" liên tục tấn công và cuối cùng đã tràn ngập tuyến phòng
thủ của Chiến đoàn 52 Bộ binh của Đại tá Ngô Kỳ Dũng ngày 15/04/1975.
Để chận đứng đà tiến của vc tràn về Sài Gòn và Biên Hòa, Thiếu tướng Lê
Minh Đảo đã xin xử dụng bom BLU.82 (Daisy Cutter), một loại bom nổ đặc
biệt có sức công phá cực mạnh trong một phạm vi rộng lớn.
Ngày 16/4/75 Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III -
Lữ đoàn 3 Kỵ Binh do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi chỉ huy đã giao tranh
dữ dội với vc tại Ngã Ba Dầu Giây.
Qua 12 ngày đêm ác chiến với quân Bắc xâm Việt
cộng, Xuân Lộc - Long Khánh vẫn vững vàng trước cơn bảo lửa. Quân đoàn
IV vc tham chiến tại mặt trận đã bị thiệt hại nặng nề về sinh mạng,
pháo binh, xe tăng, v.v… nên Bộ tư lịnh chiến dịch hồ chí minh đã vội
vàng thay đổi kế hoạch tiến chiếm Sài Gòn.
Ngày 20/04/1975, Sư đoàn 18 Bộ binh (QLVNCH)
cũng như các đơn vị được lịnh lui binh. Cuộc lui binh đã diễn ra tốt
đẹp, với tổn thất của các đơn vị bạn rất giới hạn. Cuộc lui binh này
nhằm phòng thủ vòng đai an ninh gần Sài Gòn cũng như phi trường Biên Hòa
vì quân vc sau khi không chiếm được Xuân Lộc nên đã rẽ sang con đường
khác và theo Quốc lộ 15 tiến vào thủ đô Sài Gòn qua Biên Hòa. Tinh thần
của các đơn vị QLVNCH tham chiến còn vững vàng, quân trang, đạn dược
còn đầy đủ chứ không thiếu thốn hay bị mất tinh thần mà phải lui binh.
Cùng ngày, Ðại Sứ Mỹ Graham Martin gặp TT Thiệu
và yêu cầu ông Thiệu nên từ chức để sớm có thương thuyết với CS bằng
chính phủ mới của Dương Văn Minh. Chiều ngày hôm đó thì Phan Rang lọt
vào tay Cộng quân và Cộng quân cũng cố tình xua cho dân chúng di tản để
làm rối loạn tinh thần dân chúng ở Saigòn.
Ngày 20/04/1975, cũng là ngày phòng tuyến xa
của quân đoàn III dưới quyền chỉ huy của Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi
bị thất thủ. Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang
Tư lịnh sư đoàn 6 Không quân bị quân việt cộng bắt trên đường triệt
thoái.
Trước khi bị ám sát chết ngày 08/04/1975, Trung
tướng Nguyễn Văn Hiếu được Bộ tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa
đề cử trách nhiệm phòng thủ Phan Rang, nhưng không hiểu vì lý do gì
quyết định này lại thay đổi. Đặt giả thuyết, nếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu
được trao trách nhiệm phòng thủ Phan Rang một cách thật sự, có lẽ tình
hình chiến sự sẽ có nhiều thay đổi thuận lợi hơn cho QLVNCH và đất nước
Việt Nam.
Ngày 21/04/1975, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa
Nguyễn Văn Thiệu từ chức và trao quyền lại cho Phó tổng thống Trần Văn
Hương. Mặc dù với số tuổi 71, phó tổng thống Trần Văn Hương đã can đảm
đứng ra gánh lấy trọng trách điều hành quốc gia trong cơn bảo lửa.
Từ ngày 1/04/1975 đến ngày 30/04/1975, quân
đoàn IV của Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam vẫn còn nguyên vẹn và trong
tinh thần sẳn sàng chiến đấu.
Tình hình quân sự ngày 28/04/1975 khi Đại tướng Dương Văn Minh nhậm chức Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa như sau:
- Tại các vùng trong và ngoài của thủ đô Sài
Gòn, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn khoảng trên dưới khoảng 60 ngàn
binh sĩ đó là chưa kể còn khoảng trên dưới gần 70 ngàn binh sĩ thuộc
quân đoàn IV của Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, để đối đầu lại với khoảng
280 ngàn quân Bắc xâm Việt cộng.
- Lực lượng quân sự của Quân đoàn IV do Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lịnh gồm có:
18 Liên đoàn Biệt Động Quân; 5 Thiết đoàn và 17
Chi đoàn Kỵ binh với 493 chiến xa đủ loại; Sư đoàn 4 Không quân đóng ở
phi trường Trà Nóc, Cần Thơ với khoảng 100 phi cơ đủ loại; Về bộ binh
có các Sư đoàn 7, 9 và 21; Hải quân có 4 Duyên đoàn và 9 Giang đoàn với
600 tàu đủ loại.
Tương quan lực lượng giữa Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa và quân Bắc xâm Việt cộng được ghi nhận như sau trong lãnh thổ
quân đoàn III:
- Phòng tuyến Bình Dương về hướng Bắc có Sư đoàn 5 Bộ binh đóng ở Lai Khê, bảo vệ Quốc lộ 13 và đối thủ là Sư đoàn 1 Việt cộng.
- Phòng tuyến Biên Hòa về hướng Đông có Sư đoàn
18 Bộ binh của Thiếu tướng Lê Minh Đảo sau khi rút khỏi Xuân Lộc về
trấn thủ Long Bình, Biên Hòa; Lực Lượng Xung Kích Quân Ðoàn III của
Chuẩn tướng Trần Quang Khôi chỉ được lịnh trấn tại Dầu Giây-Hưng Lộc,
sau đó là phòng thủ Biên Hòa (chứ không phải Sài Gòn); Lữ đoàn 468 Thủy
quân Lục Chiến của Trung Tá Huỳnh Văn Lượm phụ trách đối đầu với các
Sư đoàn 2, 304, 325 quân Việt cộng.
- Phòng tuyến Vũng Tàu do Lữ đoàn 1 Nhảy Dù của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh phụ trách đối đầu với Sư đoàn 3 sao vàng Việt cộng.
- Phòng tuyến Long An trấn giữ bởi Sư đoàn 22
Bộ binh đối đầu với các Sư đoàn 8, 24 và 6, trừ bị là các Sư đoàn 7, 9
và 3 Việt cộng; Liên đoàn 6 và 8 Biệt Động Quân đối đầu với các Sư đoàn
8, 5, 262 Việt cộng.
- Phòng tuyến Củ Chi do Sư đoàn 25 Bộ binh của
Chuẩn tướng Lý Tòng Bá trấn đóng ở Củ Chi, nơi đây Sư đoàn đã đối đầu
với Sư đoàn 50 Việt cộng; Liên đoàn 9 Biệt Động Quân đối đầu với Sư
đoàn 232, 27, 71 của Việt cộng.
Ngoài ra, quân đoàn III VNCH còn có 14 Tiểu
đoàn Pháo binh với 376 đại pháo đủ loại; 7 Thiết đoàn Kỵ binh với gần
700 chiến xa đủ loại; Sư đoàn 3 Không quân đóng ở Biên Hòa và Sư đoàn 5
Không quân đóng ở Sài Gòn; Hải quân có 4 Hải đoàn Duyên phòng và 6
Giang đoàn với 700 tàu đủ loại; Các đơn vị Địa Phương Quân Nghĩa Quân,
Nhân Dân Tự Vệ cũng như Cảnh Sát Quốc Gia và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.
Tuy nhiên qua cách bố phòng, chúng ta có thể
nhận thấy một điều, hầu hết các đơn vị lớn và thiện chiến của Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa chỉ đóng ở vòng đai xa thủ đô Sài Gòn, không có một
đơn vị tinh nhuệ nào được lịnh trực tiếp bảo vệ thành phố đông dân này
(nếu chúng tôi không nhầm). Sài Gòn đã bị bỏ ngỏ từ trước, nhất là khi
phòng tuyến Củ Chi của Sư đoàn 25 Bộ binh bị xuyên thủng, quân Bắc xâm
Việt cộng đã thâm nhập Sài Gòn một cách dễ dàng.
- Về phía quân Bắc xâm Việt cộng bao gồm các
quân đoàn I, II, III, IV tổng cộng 15 sư đoàn bộ binh, ngoài ra còn có 5
Lữ đoàn bộ binh biệt lập, 4 Trung đoàn chiến xa, 6 trung đoàn đặc
công.
Kể từ khi quân Bắc xâm Việt cộng phát động cuộc
tổng tấn công chiếm thủ đô Sài Gòn ngày 26/04/1975, thì Sư đoàn 25 Bộ
binh có căn cứ tại Củ Chi bị thất thủ khi quân đoàn III vc gồm các Sư
đoàn 320, 316, 70, 968 tấn công dồn dập, Chuẩn tướng Lý Tòng Bá một
Tướng lãnh tài ba lỗi lạc rốt cuộc phải thúc thủ và bị bắt tại mặt trận
đêm 29 rạng sáng 30/4/1975 do quyết định sai lầm từ tướng Nguyễn Văn
Toàn Tư lịnh quân đoàn III.
Sư Ðoàn 5 Bộ Binh do Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ
làm tư lịnh đóng ở Lai Khê, tình hình không có gì đặc biệt. Nhưng sáng
hôm sau khoảng 10 giờ 30, khi nghe Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng
cộng sản, Tướng Lê Nguyên Vỹ cho kéo cờ trắng. Sau đó, ông nghiêm trang
chào quốc kỳ rồi trở về văn phòng tự sát. Tướng Lê Nguyên Vỹ đền nợ
nước đúng ngày 19 tháng 3 năm Ất Mão (Âm Lịch), tức ngày 30 tháng 4 năm
1975 (Dương Lịch).
08 giờ sáng ngày 30/4/75, liên lạc với Bộ Tổng
Tham Mưu hoàn toàn bị cắt đứt, Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi quyết định
họp các chỉ huy trưởng để tham khảo ý kiến. Tất cả cùng quyết định kéo
quân về giải vây thủ đô. Đoàn quân giải vây thủ đô gồm:
Lữ Ðoàn 2 Nhảy Dù do Trung Tá Nguyễn Lô chỉ huy tiến theo Ðường Sắt phía phải về Saigòn.
Lữ Ðoàn 468 Thủy Quân Lục Chiến của Trung Tá Huỳnh Văn Lượm tiến theo phía trái Ðường Sắt
Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh và Liên Ðoàn 33 Biệt Ðộng Quân tiến theo Xa lộ Biên Hòa về Saigòn.
Chiến Ðoàn 315 của Trung Tá Ðỗ Ðức Thảo tiến về Cầu Bình Triệu.
Chiến Ðoàn 322 của Trung Tá Nguyễn Văn Liên tiến theo sau Chiến Ðoàn 315.
Chiến Ðoàn 318 của Trung Tá Nguyễn Ðức Dương đi phía sau các đơn vị để yểm trợ.
Tuy nhiên khi các chiến xa của Lữ đoàn 3 Kỵ
Binh tiến tới gần nhà thờ Fatima, Bình Triệu, thì Tướng Trần Quang Khôi
nghe được lịnh buông súng đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh. Đó
là ngày 30 tháng 4 năm 1975 lúc 10 giờ 25 phút sáng.
Khi lịnh đầu hàng ban hành, vì không chấp nhận
đầu hàng kẻ thù, Trung tá Nguyễn Văn Long (Cảnh Sát Quốc Gia) đã tự sát
bằng súng lục lúc 11giờ 30 dưới tượng đài Thủy Quân Lục Chiến phía
trước tòa nhà Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa trong ngày 30 tháng 4 năm
1975.
Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Tư lịnh phó quân đoàn IV tự sát vào lúc 20 giờ 45 phút tối ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Thiếu tướng Phạm Văn Phú nguyên Tư lịnh quân
đoàn II quân khu II tự tử bằng thuốc độc ngày 29/04/1975 và chết vào
trưa ngày 30/04/1975 khi nghe tin Dương Văn Minh đầu hàng Việt cộng.
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam tư lịnh Quân Ðoàn
IV Quân khu IV, đã quyết định không đầu hàng Việt cộng và tuẫn tiết vào
sáng ngày 01 tháng 5 để bảo vệ khí tiết của một vị tướng lãnh của Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông tự sát khi mới 48 tuổi.
Chuẩn tướng Trần Văn Hai Tư lịnh Sư đoàn 7 Bộ binh tự sát bằng thuốc độc chiều ngày 30/4/1975.
Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn Tỉnh trưởng tỉnh Chương
Thiện, chiến đấu đến cùng và bị bắt lúc 11 giờ đêm ngày 1/5/75 khi bộ
chỉ huy Tiểu khu thất thủ.
Và còn nhiều, rất nhiều gương trung liệt khác
của quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong ngày
30/4/1975 vì không chấp nhận đầu hàng quân Bắc xâm Việt cộng. (1)
Một trang sử đã lật qua !
- Sau khi chiếm Sài Gòn quân Bắc xâm Việt cộng
đã cướp 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa do phó thủ tướng Nguyễn Văn
Hảo trao tay. Rồi đổ cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đem đi ngoại
quốc.
- Ngày 10/05/1975, quân Bắc xâm Việt cộng tập
trung Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong chính sách "tập trung
cải tạo" thực tế là đi tù. Hàng trăm ngàn người đã bị đày ải trong các
trại tù từ Nam chí Bắc; trong số đó có những người đã bị chết trong các
trại tù do bịnh tật, do sự trả thù, do sự vượt thoát không thành và bị
hạ sát. Con số có thể lên đến hàng ngàn, hàng chục ngàn người bị chết
trong các trại tù trá hình từ Nam chí Bắc.
- Ngày 14/08/1975 Đại tá Hồ Ngọc Cẩn tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện bị Việt cộng hành quyết.
- Từ ngày 02/09 đến 27/12/1975, Việt cộng hành
quyết 7 sĩ quan và viên chức hành chánh của Việt Nam Cộng Hòa ở trại
tù Suối Máu, tỉnh Đồng Nai.
- Ngày 18/09/1975 đổi tiền lần thứ nhất.
- Ngày 10/11/1975 chiến dịch đánh tư sản mại bản lần đầu do Nguyễn Hữu Thọ cầm đầu.
- Ngày 22/12/1975 Việt cộng tiến hành thống
nhất hai miền Nam Bắc và chính thức khai tử Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam (một bình phong, con cờ trong âm mưu thôn tính miền Nam) bằng cách
chỉ xử dụng lá cờ đảng sao vàng làm "quốc kỳ" cho nước Việt Nam thống
nhất.
- Từ 02/01 đến 13/08/1976, quân chiếm đóng
Việt cộng xử tử hình 17 sĩ quan và viên chức hành chánh VNCH ở trại tù
Suối Máu, tỉnh Đồng Nai.
- Ngày 12/02/1976, Việt cộng tấn công nhà thờ
Vinh Sơn ở Sài Gòn và giết 3 vị linh mục. Một số thành viên của tổ chức
Liên Tôn bị bắt, trong đó có Linh mục Quang Minh.
- Ngày 12/03/1976, Trần Văn Phác, bộ trưởng
thông tin Việt cộng ra lịnh tịch thu, tiêu hủy "sách báo đồi trụy, phản
động" ở miền Nam Việt Nam. Đây là lần thứ ba đạo quân Bắc xâm diệt
chủng văn hóa của tộc Việt.
- Ngày 05/06/1976, Trần Trọng Tân, trưởng ban
khoa giáo thành ủy Sài Gòn ra thông báo tổ chức các khóa học chánh trị
cho giới văn nghệ sĩ miền Nam, và sau đó là những đợt truy lùng bắt bớ
văn nghệ sĩ trên toàn miền Nam.
- Từ khi sài Gòn bị thất thủ, hàng ngàn, hàng
vạn người dân Việt đã liều mạng bỏ xứ ra đi. Họ dùng đủ mọi phương
tiện, bằng tàu bè, bằng đường bộ để vượt thoát ra khỏi chế độ Cộng sản
Việt Nam. Do đó đã đưa đến cao trào vượt biển vào năm 1979. Có những
người may mắn đến được bến bờ tự do, rồi được định cư ở một nước thứ
ba; nhưng có những người vượt biển khác đã để xác thân lại dưới lòng
biển sâu; và có những người phụ nữ Việt Nam bị hải tặc Thái Lan cưỡng
bức, rồi hoặc giết, hoặc bắt đi đem bán cho các nhà "tiếp khách" ở Vọng
Các. Con số nạn nhân vượt biển tìm tự do lên đến khoảng 1 triệu 500
ngàn người. Và con số người đến được bến bờ tự do, không dưới 3 triệu
người, định cư rải rác trên thế giới từ Mỹ sang Âu.
- Ngày 26/12/1978, quân Bắc xâm Việt cộng xua 200 ngàn quân xâm lăng Cao Miên.
- Ngày 17/02/1979, Tầu cộng xua hơn 500 ngàn quân tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam.
...
Thăng Long ngàn xưa huy hoàng rực rở biết bao nhiêu thì Thăng
Long ngàn năm sau ê chề nhục nhả không bút mực nào diễn tả được.
Đó là phải kể từ khi đảng Cộng Sản Việt Nam làm
chủ Thăng Long năm 1954, họ đã hành xử như một thế lực xâm lăng của
ngoại bang từ phương Bắc.
Nói một cách rõ ràng hơn chính đảng Cộng sản
Việt Nam đã biến mình thành làm cánh tay nối dài của Trung cộng trong
mục tiêu xâm lược, nô lệ hóa dân tộc Việt Nam từng bước một qua nhiều
thời kỳ khác nhau.
Từ cải cách ruộng đất 1956 đến tiến hành xâm
lược quốc gia Việt Nam Cộng Hòa năm 1975, núi xương sông máu trải dài
trên đất nước đã một thời tự hào có nền văn hiến chi bang. Ngoài ra cần
phải kể thêm đến hải chiến Hoàng Sa năm 1974 giữa hải quân Việt Nam
Cộng Hòa và Trung cộng.
Dòng sử cận đại của tộc Việt đã đề danh không
biết bao nhiêu anh hùng, anh thư, chiến sĩ, danh tướng đã hết lòng
chiến đấu, hy sinh cho lý tưởng tự do, tự cường của nước nhà. Từ anh
hùng Nguyễn Thái Học, Cô Giang, Cô Bắc, đến anh hùng Huỳnh Phú Sổ, anh
hùng Ngô Đình Diệm, anh hùng Ngô Đình Nhu cho đến anh hùng Trương Quang
Ân, Lưu Trọng Kiệt, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Văn Hiếu, Ngụy Văn Thà, Phạm
Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn,
Nguyễn Xuân Phúc, Võ Đằng Phương, Trần Văn Hương, Trương Văn Sương,
Nguyễn Văn Trại v.v... họ đã là những biểu tượng sáng ngời của nền văn
hiến chi bang, một thời là Đại Việt Quốc.
Điều đáng tiếc đối với dân tộc Việt Nam là tài
nguyên, vật lực đổ xuống chỉ để cho nhu cầu chiến tranh, cũng như bành
trướng chủ nghĩa Cộng sản phục vụ cho sự bành trướng xuống phương nam
của quân Trung cộng.
Sau ngày thống nhất đất nước bằng bạo lực vào
thời điểm 30/04/1975, đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đẩy con dân Việt
Nam vào những cuộc chiến tranh khác như chiến tranh biên giới Việt
Trung 1979, chiến tranh biên giới Cao Miên; cuộc chiến Núi Đất; thảm
sát Trường Sa 1988 v.v...
Cỏn phải kể đến biên giới phía Bắc, Ải Nam
Quan, thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm, Vịnh Bắc Bộ, rừng đầu nguồn, Tây
Nguyên, Hoàng sa, Trường Sa, đảo Bạch Long Vỹ, tất cả đều được đảng
Cộng Sản Việt Nam dâng cho quân Trung cộng để đánh đổi sự tồn tại chính
trị của họ.
Người dân Việt không ngồi yên cho đảng Cộng sản
thực hiện điều họ mong muốn. Đó là nô lệ hóa dân tộc trở thành quận
huyện của Tàu. Những người dân này đã biểu hiện ý chí chống ngoại xâm
cũng như quyết tâm đòi dân quyền, nhân quyền cho tộc Việt. Trong đó
tiêu biểu là người tù chính trị xuyên thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu; Linh mục
tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lý, Hòa thượng Thích Quảng Độ, tiến sĩ
luật Cù Huy Hà Vũ, ông Vi Đức Hồi, ông Nguyễn Văn Bảy, ông Nguyễn Văn
Lía, cô Đỗ thị Minh Hạnh, Đặng Phương Nghiêm, Trần Huỳnh Duy Thức, Điếu
cày Nguyễn Văn Hải, Bùi thị Minh Hằng, anh ba Sài Gòn, Tạ Phong Tần
v.v...cho dù thân họ nằm trong nhà tù nhỏ xã hội chủ nghĩa, nhưng tâm
hồn, ý chí họ phóng khoáng, cao thượng luôn giữ vững tấm lòng son sắt
đối với dân, với nước, bất chấp gian lao, khổ sở, cũng như những sự
hành hạ về thể xác và tinh thần mà nhà đương cuộc đã dành cho. Ý chí
đấu tranh bất khuất của họ đã làm dư luận quốc nội và quốc tế quan tâm
sâu sắc, và những định chế quốc tế, cho đến các tổ chức phi chánh phủ
đồng loạt lên tiếng đòi nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải trả tự do
ngay lập tức cho những người chiến sĩ quả cảm này.
Liên quan đến cuộc họp ở Thành Đô (Tứ Xuyên),
Trung cộng đầu tháng 9/1990 giữa lãnh đạo cộng sản Việt Nam và Cộng sản
Tàu, theo Nguyễn Cơ Thạch bộ trưởng ngoại giao đã nhận định rằng: “một
thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu!”. Một lời than áo não. Lời
cảnh báo đó, đến ngày hôm nay vẫn còn có giá trị.
Năm 2010 kỷ niệm một ngàn năm thành Thăng Long
được thành lập, thay vì tổ chức sự kiện này trong niềm tự hào dân tộc
để phát huy, chấn hưng dân khí, đảng Cộng sản Việt Nam lại hành động
một cách khác (2).
Họ tổ chức thật rình rang, tốn kém lễ lộc này
để mừng quốc khánh Trung cộng ngày 01/10 nhưng lồng dưới tiêu đề kỷ
niệm đại lễ ngàn năm Thăng Long. Đây là một sự đánh tráo lịch sử, làm
nhục cho lịch sử dân tộc. Hành động này đã hoàn toàn làm mất đi ý nghĩa
thiêng liêng của lễ kỷ niệm ngàn năm.
Dư luận trong, ngoài nước đã phản ứng rất dữ dội sự đánh tráo lịch sử, làm nhục tổ tiên của đảng Cộng sản Việt Nam vào lúc đó.
Tháng 05/2011, xảy ra sự kiện tàu hải giám
Trung cộng cắt dây thép tàu Bình Minh của Việt Nam cộng sản. Đứng
trước sự kiện khiêu khích này nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phản ứng
rất yếu ớt, nhu nhược.
Thế nhưng người dân Việt Nam ở trong và ngoài
nước đã bất chấp sự nhu nhược, hèn hạ của nhà cầm quyền hiện tại, họ
đồng loạt tổ chức biểu tình phản đối hành động xâm lấn của Trung cộng;
đặc biệt người Việt hải ngoại còn nêu bật thủ phạm bán nước là nhà cầm
quyền Cộng sản Việt Nam và tố giác hành động xâm lược của quân Trung
cộng trước công luận quốc tế.
Ngày 11/10/2011, ông Nguyễn phú Trọng, Tổng bí
thư đảng Cộng sản Việt Nam đã cùng với Hồ cẩm Đào, chủ tịch nước Trung
cộng chứng kiến lễ ký thỏa hiệp Việt Nam - Trung Cộng liên quan đến các
vấn đề tranh chấp biển Đông (3).
Ngày 24/12/2011, Hội Nghiên Cứu Sử Học Việt Nam tại Âu Châu đã ra Tuyên Cáo Chống Nội Thuộc Nước Tàu Lần Thứ 7 (4)
Vào ngày 5 tháng 1 năm 2012 nhà cầm quyền
huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, đã điều động công an đến cướp đất của ông
Đoàn Văn Vươn. (5)
Trong khi vụ cướp đất Tiên Lãng đang ầm ĩ cả
trong lẫn ngoài nước, ngày 19/01/2012, Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Cần Thơ đã mời bà Trần Ngọc Sương - nguyên giám đốc Nông trường sông
Hậu và những người liên quan đến vụ án Nông trường sông Hậu đến tòa để
nghe phán quyết đình chỉ vụ án.
Phóng viên Việt Hà của đài RFA cho biết vào
rạng sáng ngày 24/04/2012, nhà cầm quyền tỉnh Hưng yên đã huy động 3000
công an, bộ đội đến cưỡng chế cánh đồng 70 ha của dân chúng xã Xuân
Quan huyện Văn Giang.
Khoảng 2000 người dân của ba xã Xuân Quan,
Phụng Công và Cửu Cao đã chống trả quyết liệt với 3000 công an, bộ đội
bị lạm dụng thi hành nhiệm vụ.
Việc cưỡng chế đất ở Văn Giang Hưng Yên có liên
quan đến công ty Ecopark. Người đứng đằng sau Ecopark là đương kim thủ
tướng Nguyễn tấn Dũng.
1000 công an (không có quân đội như lần cướp
đất ở Văn Giang) cùng chó săn được huy động để đàn áp hơn 100 người dân
địa phương ở Vụ Bản ngày 09/05/2012.
Hành động cướp đất cướp của dân một cách công
khai, và dã man đã khiến nhiều nhân sĩ, trí thức trong nước, hải ngoại
còn nặng lòng với dân tộc đã lên tiếng chỉ trích.
Các vụ cướp đất cướp của dân chưa yên thì ngày
06/05/2012, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tổ chức khánh thành tượng
Đức Thánh Trần ở đảo Trường Sa nhằm đánh lạc hướng dư luận.
Trong hội nghị Tổng kết năm 2011 của Bộ Khoa học và Công nghệ được tổ chức ngày 11/01/2012, ông Nguyễn tấn Dũng đã nhấn mạnh "Chúng
ta quyết tâm làm điện nguyên tử. Không làm điện nguyên tử không có
điện. Theo tính toán đến năm 2020, Việt Nam sẽ thiếu điện nghiêm trọng".
Thực ra, đây là phương tiện tham nhũng đối với
đảng Cộng sản Việt Nam, cho dù việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân sẽ
vô cùng bất lợi cho dân tộc Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang tạo ra ba quả bom treo lơ lửng trên đầu dân tộc Việt Nam.
Chỉ có con đường cách mạng dân chủ mới thoát
khỏi sự cai trị độc tài của đảng Cộng sản Việt Nam và chấm dứt tình
trạng diệt chủng dân tộc qua ba quả bom bùn đỏ, đập nước, hạt nhân. Con
đường cách mạng dân chủ sẽ là quả bom thứ tư, mà đối tượng nhắm đến
không ai khác chính Cộng sản Việt Nam sẽ là mục tiêu hướng tới.
Tham khảo:
1/ Quân sự Việt Nam ngày 30/04/1975, Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc biên khảo
http://www.quansuvn.info/D_1-2_2-89_4-1861_5-10_6-1_17-130_14-2_15-2/
2/ Thiên Niên Sử Thăng Long Thành, Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc biên khảo
http://www.quansuvn.info/D_1-2_2-199_4-3378_15-2_5-10_6-3_17-87_14-2/
3/ Tuyên Cáo Phản Đối Thỏa Hiệp Việt Trung, Hội Nghiên Cứu Sử Học Việt Nam tại Âu Châu
http://www.quansuvn.info/D_1-2_2-89_4-2299_5-10_6-1_17-130_14-2_15-2/
4/ Tuyên Cáo Chống Nội Thuộc Nước Tàu Lần Thứ 7, Hội Nghiên Cứu Sử Học Việt Nam tại Âu Châu
http://www.quansuvn.info/D_1-2_2-89_4-2872_5-10_6-1_17-130_14-2_15-2/
5/ Từ Tiên Lãng_Sông Hậu_Văn Giang_Vụ Bản đến dựng tượng đức Thánh Trần và Hồ Sơ Nguyên Tử Việt Nam
http://www.quansuvn.info/D_1-2_2-89_4-3459_5-10_6-1_17-130_14-2_15-2/
Lịch Sử Việt Nam Qua Ảnh: Đại Họa Mất Nước
Việt Nam Sử Lược phần 1 từ thời lập quốc cho đến năm 1955;
Việt Nam Sử Lược Phần 2 Từ 1955 Đến 1973;
Việt Nam Sử Lược Phần 3 Từ 1973 Đến 2012
Quân sự Việt Nam