Quân sự Việt Nam: Ai Đáng Trách Trong Biến Cố Sàigòn Thất Thủ Năm 1975Nguyễn Văn Tín
Mười Một Buổi Họp Giữa Bắc Kinh và Hànội từ 10-1964 tới 02-1968
Các điểm chính yếu trong loạt mười một buổi họp
1. Kế hoạch điều nghiên xâm lược Nam Việt Nam được thực hiện không phải tại Hànội mà là tại Bắc Kinh.
2. Các nhân vật đặt kế hoạch không phải là Hồ Chí
Minh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẫn, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng và Nguyễn
Duy Trinh, mà là Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Tao Zhu,
Liu Shaoqi, Kang Shen, Ye Jianying, Peng Zhen, Luo Ruiqing và Zhu Qiwen.
3. Việc đánh cấp sư đoàn được quyết định năm 1964 và được Mao Trạch Đông phê chuẩn ngày 5/10/1964.
4. Mao Trạch Đông đoán chừng Mỹ có thể có ba phản ứng
và đề xướng cách đối ứng: trường hợp Mỹ tung quân bộ chiến vào Miền
Nam, trường hợ Mỹ đổ bộ lên Bắc Việt, trường hợp Mỹ tấn công Không Lực
Trung Quốc ...
5. Mao Trạch Đông chỉ đạo phương thức chiến cuộc cho
Phạm Văn Đồng. Ngoài Bắc, xây đắp thành lũy phòng thủ dọc theo bờ biển
như Tàu thực hiện trong cuộc chiến Cao Ly; không đối mặt địch với chủ
lực quân. Trong Nam, chiến đấu tích cực.
6. Mao Trạch Đông thừa nhận Trung Cộng gây hấn.
7. Lê Duẫn xin trợ giúp phi công, lính tráng, các đơn vị công bín xây đường xá và cầu cộng.
8. Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh trù tính xây đường
xá từ biên giới Trung Cộng đến mắt trận Nam Việt, từ Sầm Nứa Hạ Lào tới
Nam Việt Nam, và đường xá dẫn tới Thái Lan ... với quân lính Trung Cộng.
9. Chu Ân Lai không chấp thuận Nga viện trợ nhưng muốn Căm Bốt can dự vào cuộc chiến.
10. Năm 1966, Đặng Tiểu Bình nói có 100.000 quân lính Tàu tại Việt Nam. Lê Duẫn nói cần hơn 500.000 quân lính Tàu.
11. Nga đề nghị tăng viện trợ qua ngã Trung Cộng từ 10 lên 30 ngàn tấn một tháng.
12. Chu Ân Lai quyết tâm dấn thân vào cuộc chiến tại Việt Nam dù đã 70 tuổi.
13. Chu Ân Lai chỉ thị cho Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên
Giáp phương thức đánh giặc trong ba trường hợp: cuộc chiến tiếp diễn và
bành trướng; 2. Địch sẽ phong tỏa bờ biển; 3. Thời điểm then chốt vào
mùa khô năm 1968. Họ Chu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của cuộc tranh
đấu về mặt chính trị.
14. Trong buổi họp ngày 07/02/1968, Chu Ân Lai đề
nghị Hồ Chí Minh tăng cấp cuộc chiến lên mức quân đoàn với 30.000-40.000
quân lính nhắm loại khử 4.000-5.000 lính địch quân trọn đơn vị và xử
dụng chiến lược đào hầm sáp gần các căn cứ địch, chiến lược đánh đêm và
tiếp cận và xây dựng các đường đạo cho việc chuyển quân và đạn dược.
Lời bàn
Loạt bài báo cáo về các buổi họp giữa Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng của Tàu và Bắc Việt cho thấy một điểm chính yếu:
Cuộc Chiến Việt Nam là một sư đương đầu giữa Trung
Cộng và Hoa Kỳ trong đó phía Mỹ chớp mắt trước tiên. Do đó, ai là kẻ
đáng trách trong việc Nam Việt Nam thất thủ? Hẳn không phải là QLVNCH,
thường bị cáo buộc là không chịu và không có khả năng bảo vệ xứ sở sau
khi quân Mỹ triệt thoái. Phía Mỹ mới là thủ phạm vì đã cắt hẳn viện trợ
năm 1975.
Ngược lại, nếu không có Trung Cộng sừng sững đứng sau
lưng, Cộng Sản Bắc Việt sẽ chẳng bao giờ “đánh bại” được Mỹ và Nam Việt
Nam.
Nếu mà Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ cho Nam Việt Nam, Nam
Việt Nam sẽ chẳng bị thất thủ năm 1975 cho dù mức độ viện trợ có giảm
thiểu xuống mấy đi nứa, Cộng Sản Bắc Việt sẽ chẳng có thể chiếm đóng
toàn cõi Nam Việt Nam. QLVNCH sẽ có thể kéo dài cuộc chiến, cho dù có
phải xoay qua đánh du kích. Vấn đề Việt Nam sẽ chẳng có thể giải quyết
trên chiến trường, một một phía đánh bại phía kia bằng vũ lực quân sự.
Rồi đến khi cả đôi bên thấm mệt, ai nấy đều sẽ đến phải chịu ngồi lại
tìm một giải pháp chính trị và ngoại giao. Đến khi đó, Nam Việt Nam sẽ
rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt nếu nạn tham nhũng vẫn còn lũng đoạn
QLVNCH: “Hoặc chúng ta tự sửa sai hoặc Cộng Sản sẽ sửa sai chúng ta”,
Tướng Hiếu, đặc trách bài trừ tham nhũng tuyên bố như vậy.
Hoa Kỳ chớp mắt trước tiên ... Khi nào, Ai, Tại Sao và Thế Nào ...
Năm 1971, Trung Cộng nhắn nhủ Cộng Sản Bắc Việt có
thể tấn công Nam Việt Nam vì Hoa Kỳ đã đồng ý nhượng bộ, vì trong buổi
họp ngày 9 thán 7 năm 1971, Kissinger cho Chu Ân Lai biết là “chính phủ
Nixon quyết tâm đơn phương rút ra khỏi Việt Nam, cho dù làm vậy sẽ khiến
chính phủ Nam Việt Nam bị sụp đổ.” Lập trường này của chính phủ được
giữ kín cho tới mới đây mới được phanh phui nhóm nghiên cứu National
Security Archive ra và đăng trên New York Times ngày 27 tháng 2 năm
2002.
Nói ngắn gọn lại, Chu Ân Lai đã đổi chác với
Kissinger: Quí vị sẽ có được thị trường Trung Quốc nếu qui ví chịu để
cho đàn em của chúng tôi thắng cuộc chiến.
Biết được Mỹ háo hức muốn đơn phương triệt thoái khỏi
Nam Việt Nam bằng mọi giá, vào tháng 5/1972, Cộng Quân đồng loạt tấn
công tại ba mặt trận: Quảng Trị tại Quân Khu I, Kontum tại Quân Khu II,
và An Lộc tại Quân Khu III. Quảng Trị bị thất thủ ngay và chỉ được
QLVNCH tái chiếm vào tháng 9/1972. Kontum cầm cự nổi qua một cuộc chiến
kéo dài hai tuần lễ. An Lộc đứng vững sau một cuộc vây hãm kéo dài ba
tháng. Trong cả ba mặt trận, các đơn vị QLVNCH chỉ đánh bại nổi địch
quân nhờ vào không yểm dồi dào do Không Quân Mỹ cung cấp, đặc biệt là
bom trải thảm của B-52. Tạm thời, chương trình Việt Nam Hóa coi bộ thành
công.
Nhận thức được QLVNCH sẽ mạnh đủ để chống trả các
cuộc tấn công với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, Cộng Sản Bắc Việt đồng ý ký
kết Hòa Đàm Ba Lê vào ngày 23/1/1973, duy với mục đích là khiến Mỹ giới
hạn tiếp vận công cụ chiến tranh trên căn bản một đổi một cho QLVNCH và
đình chì mọi không yểm cho QLVNCH, đổi chác lấy sự phóng thích tù binh
Mỹ. Nhưng rồi ngay sau khi đặt bút ký kết, đường mòn Hồ Chí Minh được
biến cải thành một thông lộ hoạt động ngày đêm bất kể mưa nắng chuyển
vận quân lính và chiến cụ từ Bắc vào Nam. Trong khi đó, dưới con mắt
thích thú của Cộng Quân, và dưới con mắt bàng hoàng của QLVNCH, Hoa Kỳ
giảm thiểu ngân sách cho Nam Việt Nam xuống 30% (từ 1.6 tỷ xuống 1.26
tỷ) trong năm 1973, và xuống 60% (từ 1.6 tỷ xuống 700 triệu) vào năm
1974. Thêm vào đó, Hoa Kỳ cũng cắt giảm 30% số lượng đạn dược (từ
179.000 tấn còn lại 126.000 tấn) và 50% số lượng xăng nhớt và các bộ
phận thay thế.
Năm 1974, Cộng Quân vẫn còn e ngại lời hứa thầm kín
của Nixon với Thiệu là Mỹ sẽ nhảy vào lại chiến trường Việt Nam nếu Bắc
Việt xâm lấn Nam Việt. Cộng Quân lấy quyết định đánh thăm dò Phước Long
vào tháng 12/1974. Khi Mỹ không phản ứng sau khi Phước Long thất thủ vào
tháng 1/1975, Cộng Quân bạo dạn lên đánh tiếp Ban Mê Thuột vào tháng
3/1975. Lần này Mỹ cũng không bày tỏ thái độ.
Vào tháng 3/1975, thái độ ù lì của Tổng Thống Ford
khiến Tổng Thống Thiệu thi hành hai cuộc triệt thoái chiến thuật các đơn
vị ra khỏi Vùng I và Vùng II một cách vô tổ chức, đưa tới sự triệt tiêu
của tất cả các đơn vị chiến đấu thuộc Quân Đoàn I và Quân Đoàn II. Khi
Tướng Weyand tới Việt Nam trong sứ mạng thẩm định tình hình, ông thấy
lực lượng Cộng Quân gồm có 200.000 người và 123 trung đoàn đối chọi với
54.000 người và 39 trung đoàn về phía QLVNCH. Tướng Weyand đề nghị Tổng
Thống Ford cung cấp ngân khoản khẩn cấp 750 triệu để tái tạo hàng ngũ
QLVNCH và đồng thời dùng bom B-52 chận đứng đà tiến quân của Cộng Quân.
Cả hai đề nghị bị bác bỏ, kết quả là sự đổ vỡ hoàn toàn của Chính Phủ
Nam Việt Nam vào tháng 5/1975.
Ngày 6 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Thiệu triệu Tướng
Hiếu vào dinh Độc Lập hội ý. Tướng Hiếu không ngần ngại thẩm định việc
triệt thoái vô tổ chức khỏi Quân Đoàn I và II đã khiến tiềm lực chiến
đấu của QLVNCH giảm thiểu xuống đến mức độ vô vọng không còn khả năng
ngăn chận đà tiến công mau lẹ của Bắc Quân. Nếu Mỹ không trở lại chiến
trường Việt Nam, Quân Đội sẽ hết súng đạn nội trong hai tháng, với tư
cách Tổng Tư Lệnh QLVNCH, tổng thống không còn lựa chọn nào khác ngoại
trừ ra lệnh quân lính buông súng và đầu hàng, nếu muốn tránh cho quân
lính và đồng bào phải đổ máu vô ích.
Tổng Thống Thiệu đã không nghe theo ý kiến Tướng Hiếu và đã ra lệnh hạ sát Tướng Hiếu ngày 8 tháng 4...
Tướng Hiếu và lá thư Nixon gửi cho Thiệu ngày 5/1/1973
Trong tư cách Tư Lệnh Phó Hành Quân/Quân Đoàn II,
Tướng Hiếu có trách nhiệm bảo vệ Sàigòn chống lại đà tiến công của Việt
Cộng tháng 4 năm 1975. Trong kế hoạch quân sự, Tướng Hiếu nắm hết mọi
yếu tố, mà một yếu tố quan yếu là lời hứa chắc của Tổng Thống Nixon là
“tiếp tục trợ giúp trong thời kỳ hậu hiệp định và sẽ đáp ứng với toàn
lực nếu hiệp định bị Bắc Việt xâm phạm. Do đó, tôi kết luận với lời khẩn
khoản kêu gọi tổng thống sát cánh với chúng tôi.”
Tuy thân cận với Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, Tướng
Hiếu chỉ nghe tin đồn về lá thư đó. Tướng Hiếu ra sức tìm hiểu xem
chuyện đó có thật không. Trong mục đích đó, Tướng Hiếu sai phái Trung Tá
Trần Văn Thưởng, sắp sửa lên đường xuất ngoại du học tại Đại Học Quân
Sự Command and General Staff, tới gặp ca sĩ Thanh Lan. Tại sao lại Thanh
Lan? Vì cô này là tình nhân thầm kín của Hoàng Đức Nhã, em họ và thư ký
đặc biệt của Tổng Thống Thiệu. Chiều tối ngày 13 tháng 6 năm 1974,
trước khi gõ cửa nhà cô Thanh Lan, hai nhân viên tình báo của Tướng Hiếu
cài máy thu thanh vào người Trung Tá Thưởng. Tuy nhiên, Trung Tá Thưởng
không thành công trong nhiệm vụ dò xét vì thân phụ cô Thanh Lan luôn
ngồi kề canh chừng không chịu để hai người tự do trò chuyện. Tiếp sau
đó, khi qua tới Mỹ, Trung Tá Thưởng tiếp tục dò kiếm lá thư đó trong
thời gian học tại đại học quân sự. Đến khi mãn khóa học, khi đến yết
kiến Tổng Thống Ford, ông cũng vẫn không tìm thấy. Tổng Thống Ford có
khuyến cáo ông đừng tiết lộ ra công chúng các thư tư mật qua lại giữa
hai Tổng Thống Nixon và Thiệu, kể cả lá thư đặc biệt đó, nếu có trong
tay... có lẽ vì sợ Hoa Kỳ mất uy tín trước công luận thế giới.
Chỉ đến khi đọc cuốn sách Palace File, 1986, Trung Tá
Thưởng mới hay biết là vào giữa tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Thiệu cử
ông Nguyễn Tiến Hưng sang Mỹ cầu viện và trao cho bản sao của mười một
lá thư mật Tổng Thống Nixon gửi cho Tổng Thống Thiệu trong khi thương
thảo về Hiệp Định Ba Lê. Hai trong số lá thư mật này có hai lá thư trong
đó Tổng Thống Nixon hứa với Tổng Thiệu là Hoa Kỳ sẽ trở lại Nam Việt
Nam nếu Hànội không tuân giữ Hiệp Định Ba Lê.
- Lá thư ngày 14/11/1972
Tôi tuyệt đối đoan kết với tổng thống là nếu Hànội
không tuân giữ các điều khoản của hiệp định này, tôi có ý định sẽ hành
động phản hồi cách nhanh chóng và quyết liệt. Tôi xin lập lại lời đoan
kết với tổng thống là Hoa Kỳ sẽ phản ứng cực mạnh và nhanh chóng đối với
mọi vi phạm hiệp định.
- Lá thư ngày 5/1/1973
Tôi đoan kết với tổng thống là tiếp tục hỗ trợ trong
thời kỳ hậu hiệp định và sẽ đáp ứng với cận lực nếu Bắc Việt vi phạm
hiệp định.
Khi ông Hưng trưng các lá thư này trước Hạ Viện Hoa
Kỳ ngày 30 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Ford phủ nhận Tổng Thống Nixon
có hứa như vậy và từ chối trao lại các lá thư mật này cho Hạ Viện viện
lẽ đặc quyền hành pháp và bảo mật ngoại giao.
Có nên trách cứ Tổng Thống Thiệu tin vào lời hứa của
Tổng Thống Nixon không? Chẳng nên. Hơn nữa, không may cho Tổng Thống
Thiệu người kế vị của Tổng Thống Nixon là Tổng Thống Ford, người không
có đủ nghị lực để chốn cự lại Quốc Hội để giữa lời hứa của Tông Thống
tiên niệm. Bất luận Tòa Bạch Ốc và Quốc Hội đổ lỗi cho nhau, tín niệm
của Hoa Kỳ trong tư cách một đồng minh thật là tồi tệ. Lẽ đương nhiên là
thái độ đua đưa này không khiến cho binh sĩ QLVNCH quyết tâm chiến đấu
một tí tị nào. Ít nhất là ngưng đổ lỗi cho QLVNCH và khen ngợi Bắc Quân
trong việc Sàigòn thất thủ.
Cốt lõi là trong cuộc thi đua kình nhau giữa Trung
Cộng và Hoa Kỳ, Mỹ đã chớp mắt trước tiên ... ngoài ra chắng có gì là
đáng kể ...
Nguyễn Văn Tín
10 tháng 02 năm 2012

