Tài liệu lịch sử: Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Ra Khơi, 1975 được
tác giả Điệp Mỹ Linh gởi tới trang nhà Lịch Sử Quân Sử Việt Nam.
Đây là một tài liệu về Hải Sử của quân chủng Hải Quân Việt
Nam Cộng Hòa được tác giả Điệp Mỹ Linh dầy công biên soạn ròng rã trong 10 năm
trời (từ đầu thập niên 80 đến năm 1990) mới hoàn tất.
Với công trình biên soạn tỉ mỉ, công phu này, tác giả Điệp Mỹ Linh muốn lưu lại cho
thế hệ hôm nay và mai sau những hình ảnh hào hùng quả cảm nhưng không kém phần
bi tráng của quân chủng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa trong dòng Lịch Sử Cận Đại của
dân tộc Việt Nam.
Ban biên tập Lịch Sử Quân Sử Việt Nam
trang trọng giới thiệu công trình biên khảo sống động cũng như đầy tình
người của tác giả Điệp Mỹ Linh viết về những người lính áo trắng Việt Nam,
những đại bàng của trùng dương bát ngát.
Đây là tác phẩm không thể thiếu trong tủ sách gia đình. Xin
mời quý vị ủng hộ tác giả Điệp Mỹ Linh bằng cách đặt mua sách theo địa chỉ bên
dưới.
Trân trọng
Lịch Sử Quân Sử Việt Nam
TÀI LIỆU LỊCH SỬ HẢI-QUÂN
V.N.C.H RA KHƠI, 1975

ĐIỆP-MỸ-LINH
Cho các
con Xuân-Nguyệt, Hồ-Quang-Thanh, Xuân-Hương, Hồ-Quang-Liêm, Phạm-Thế-Vượng và
những người trẻ cùng thế hệ để tất cả hiểu được những hải trình khổ nạn mà Ông
và Cha đã vượt qua.
THAY LỜI TỰA
Là một ngòi bút nữ không chuyên nghiệp, tôi
rất say mê viết về Lính và tâm tình của Lính, nhưng không bao giờ tôi có ý định
viết quân sử. Đối với tôi, tường thuật là một thể loại tôi không thích; vì thể
loại này hơi khô khan, cứng ngắt, không hợp với tâm hồn tôi. Vì vậy, thực hiện
cuốn tài liệu Hải-Quân Việt-Nam Cộng Hòa Ra Khơi, 1975 không phải là “cao vọng”
(?) hay ý tưởng lập dị của tôi, mà chỉ là một cố gắng vượt bực để giới thiệu
đến độc giả một quân chủng thầm lặng nhưng được rất nhiều cảm mến của mọi
người.
Trong Hải-Quân không hề thiếu những cây bút
thừa khả năng để ghi lại những đoạn đường đầy chông gai mà tập thể ấy đã vượt
qua. Nhưng sở dĩ tôi được hân hạnh làm công việc này là vì tấm lòng tha thiết
của tôi đối với quân chủng này từ khi tôi trở thành “dâu” của Đại-Gia-Đình
Hải-Quân.
Vì yêu thích thiên nhiên và cũng vì muốn
thấy tận mắt những khía cạnh gai gốc nhất của quân chủng Hải-Quân để viết bài,
tôi xin tháp tùng những đơn vị chiến đấu Hải-Quân.
Sau khi được Tư-Lệnh Hải-Quân Trần Văn Chơn
cho phép, tôi gửi các con của tôi vào nội trú tại trường Régina Pacis và Notre
Dame des Missions để lênh đênh trên những chiến đỉnh trong Vùng IV Sông Ngòi
hoặc ghe Chủ Lực dọc miền Duyên Hải.
Nhờ
thời gian dài sống cạnh những đơn vị tác chiến này tôi mới cảm nhận được tất cả
nỗi đau thương của Người Lính V.N.C.H. Và cũng nhờ thời gian này tôi mới ý thức
được rằng Người Lính Hải-Quân cũng chiến đấu can cường, liều lĩnh và dũng cảm
không thua bất cứ một đại đơn vị tác chiến nào của Quân-Lực V.N.C.H.
Tôi vẫn nhớ, những đêm đen, thấy hỏa châu
rực sáng một vùng và nhìn đoàn giang đỉnh lầm lủi tiến về một đồn Nghĩa-Quân
đang kêu cứu, tôi bỗng nghe nhiều tiếng B40 và B41 từ hai bên bờ sông bắn xối
xả ra đoàn tàu. Chiếc Fom dẫn đầu bị mìn. Quanh tôi, lẫn trong tiếng đạn và mìn
vang rền là từng cột nước phun cao, đổ ào xuống đoàn giang đỉnh, át cả tiếng
kêu cứu từ máy truyền tin của nhân viên chiếc Fom và của đồn Nghĩa-Quân. Như đã
tiên liệu, đoàn giang đỉnh vừa chống trả mãnh liệt vừa tiếp cứu thủy thủ đoàn
của chiếc Fom và vừa trực chỉ đến giải cứu quân bạn. Những lúc đó tôi thầm nhủ
là tôi phải ghi lại những sự kiện này và những hình ảnh bi hùng có thật của
Người Lính Áo Trắng.
Tâm nguyện của tôi tưởng chỉ quẩn quanh
trong những dòng sông nhuộm máu ở U-Minh. Nhưng, đến đầu năm 1975, Người Lính
Áo Trắng không những chỉ giải cứu đồn Nghĩa-Quân mà Người Lính Áo Trắng còn đón
cả mấy Sư-Đoàn thiện chiến và cả vạn vạn đồng bào từ Vùng I và Vùng II
Chiến-Thuật đưa về Saigon và Phú-Quốc thì tâm nguyện của tôi trở nên to lớn hơn
và khó khăn hơn.
Tôi muốn ghi lại những đóng góp vĩ đại của
quân chủng Hải-Quân như là một tài liệu lịch sử.
Tuy nhiên, việc sưu tầm và đúc kết cuốn tài
liệu lịch sử này tỷ như hành động hạ thủy một chiến hạm; sau đó, mọi sự việc
xảy ra cho chiến hạm đều tùy thuộc vào mức độ xử dụng, tu bổ và bảo trì của tất
cả sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ đoàn.
Trong ý niệm đó, tôi mong sẽ nhận được những
ý kiến, những dữ kiện, những hình ảnh, để bổ khuyết cho cuốn tài liệu này thêm
phần chính xác.
Và lần tái bản này đã có vài bổ khuyết.
Tôi xin được minh xác, cuốn tài liệu này chỉ
ghi lại trung thực những biến động trong Hải-Quân, hoặc có liên quan đến
Hải-Quân, vào khoảng thời gian giữa tháng 3 năm 1975 cho đến khi Hạm-Đội
Hải-Quân V.N.C.H. đến Subic Bay mà thôi.
Phần phụ lục quan trọng là những bài viết
giá trị của chính những sĩ quan Hải-Quân như: Cựu Hải-Quân Đại-Tá Nguyễn Ngọc
Quỳnh, cựu Đề-Đốc Lâm Ngươn Tánh, cựu Phó-Đề-Đốc Đặng Cao Thăng, cựu Hải-Quân
Trung Úy Trần Trúc Việt và một sĩ quan
thuộc vào thế hệ Hải-Quân thứ hai: Cựu Hải-Quân Đại-Úy Hoàng Quốc Tuấn, xuất
thân từ Trường sĩ quan Hải-Quân Hoa-Kỳ (Officer Candidate School – OCS) tại
Newport, Rhode Island.
Tôi nghĩ lịch sử là những sự kiện có thật,
hãy để những sự việc đó tự nói lên từng trạng huống của mỗi giai đoạn. Muốn
thực hiện được điều đó và cũng để giữ mức độ khách quan và vô tư của ngòi bút,
tôi tránh xen vào cuốn tài liệu này những suy luận, những nhận định, những bình
phẩm của bất cứ một cá nhân nào – và ngay cả của chính tôi.
Những năm học trung học, học Việt-Sử và
Thế-Giới-Sử, nếu tôi nhớ không lầm, người viết sử không bao giờ thóa mạ, lên án
gắt gao hay lách vào đời tư của bất cứ một nhân vật lịch sử nào cả. Gần đây,
trong khi tra cứu một số tài liệu lịch sử Hải-Quân Hoa-Kỳ, tôi cũng chưa hề
thấy một ngòi bút nào “nặng tay” với những nhân vật liên đới trách nhiệm trong
cuộc chiến tranh Việt-Nam – dù nhân vật ấy là người Việt hay người Mỹ. Tôi nhận
thấy lối viết này thích hợp với cá tính của tôi.
Vì vậy, chỉ vị nào đọc cuốn tài liệu này với
ý tưởng tìm hiểu Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa theo tinh thần sử lược thì xin tiếp
tục đọc những trang kế tiếp; vì nơi đây, chỉ có những sự kiện lịch sử hiển hiện
chứ không hề có sự đả kích hay tâng bốc bất cứ một nhân vật nào cả.
Cuốn tài liệu này là sự đóng góp tích cực và
lớn lao của Đại-Gia-Đình Hải-Quân. Tôi có ý nghĩ để tên tác giả là “Nhóm Hải-Quân
Việt-Nam Cộng-Hòa”. Nhưng nghĩ lại, tôi nhận thấy,
dù sao đi nữa, cuốn tài liệu này cũng còn nhiều khiếm khuyết; nếu “Nhóm
Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa” viết, có thể không có những khiếm khuyết đó. Vậy, tôi là
người trực tiếp thực hiện những cuộc phỏng vấn, tham khảo tài liệu và đúc kết
mọi chi tiết, xin để cá nhân tôi chịu trách nhiệm.
Trong cuốn sách này, độc giả sẽ thấy có
những vị tôi nêu tên, có nhiều vị tôi viết tên tắt hoặc chỉ nêu chức vụ. Xin
bạn đọc hiểu cho rằng tôi phải tuyệt đối tôn trọng yêu cầu của những “nhân
chứng sống”, và cũng để tránh liên lụy cho những vị còn kẹt lại Việt-Nam.
Trước khi dừng bút, xin độc giả cho phép tôi
được đặc biệt cảm ơn hai người.
Một người đã gợi ý và khuyến khích tôi thực
hiện tài liệu này. Xin nhớ ơn Cố Trung Tướng Vĩnh Lộc.
Một người đã làm việc rất vất vả để tôi có
đủ phương tiện giàn trải ý tưởng của mình trên giấy. Xin biết ơn cựu Hải-Quân
Trung-Tá Hồ Quang Minh.
Trân trọng,
Điệp-Mỹ-Linh
diepmylinh@rocketmail.com
Tác giả xin chân thành cảm tạ quý vị
sau đây đã đóng góp tài liệu, hình ảnh, bài vở và hổ trợ tinh thần để cuốn tài
liệu này được hoàn tất.
- Đại Gia Đình Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa.
- Bộ Hải-Quân Hoa-Kỳ – Phòng Quân Sử Hải-Quân.
- Ông Richard Lee Armitage, Cựu Phụ Tá Tổng Trưởng Quốc Phòng Hoa-Kỳ.
Copyright © 1990 and 2011 by Điệp-Mỹ-Linh
Tác giả giữ bản quyền. Mọi trích dịch hoặc sao lại cần có sự
đồng ý của tác giả bằng văn thư.
Địa chỉ liên lạc:
Điệp-Mỹ-Linh
P.O. Box
401
Alief,
Texas 77411
U.S.A.
diepmylinh@rocketmail.com
International
Standard Book Number (ISBN):
0-9628124-0-4
Library of
Congress Catalog Number: 90-093493
Mục Lục
Thay Lời Tựa
Chương I Sơ Lược
Lịch Sử Hải-Quân Việt-Nam
Cộng-Hòa 1
Chương II Các Vị
Tư-Lệnh Hải-Quân 10
Chương III Sự
Tổ Chức Của Hải-Quân – Về Hành Quân 13
- Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân 13
- Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân
Nha-Trang 14
- Hải-Quân Công-Xưởng Sài-Gòn 15
- Những Đại-Đơn-Vị Chiến-Đấu 16
Vùng
Sông-Ngòi – Hành-Quân Lưu Động Sông 16
ü
Vùng III
Sông-Ngòi 17
ü
Vùng IV Sông-Ngòi 18
ü
Lực-Lượng Thủy-Bộ 19
ü
Lực-Lượng Tuần-Thám 21
ü
Lực-Lượng Trung-Ương 23
ü
Giang-Đoàn Xung-Phong 24
ü
Liên-Đoàn Tuần-Giang 25
ü
Lực-Lượng Đặc-Nhiệm 99 26
Vùng
Duyên-Hải – Hành-Quân Lưu Động Biển 27
ü
Hạm-Đội 28
ü
Vùng I Duyên-Hải 29
ü
Vùng II Duyên-Hải 30
ü
Vùng III
Duyên-Hải 31
ü
Vùng IV Duyên-Hải 32
ü
Vùng V Duyên-Hải 33
ü
Lực-Lượng Hải-Thuyền 34
ü
Liên-Đoàn Người Nhái 35
ü
Biệt-Hải 36
ü
Lực-Lượng Hải-Tuần 38
Chương IV Cuộc Đàm
Thoại Bất Ngờ 40
Chương V Những Biến
Chuyển Quân Sự Và Các Cuộc Rút Quân 41
- Vùng I Duyên-Hải 41
- Cuộc Rút Quân Tại Thuận-An 43
- Cuộc Rút Quân Tại Chu-Lai 52
- Cuộc Rút Quân Tại Đà-Nẵng 56
- Vùng II Duyên-Hải 65
- Cuộc Rút Quân Tại Qui-Nhơn 65
- Cuộc Rút Quân Tại Nha-Trang 69
- Bỏ Ngõ Cam-Ranh 71
- Trên Biển Phan-Rang 74
- Bên Bờ Phan-Thiết 77
- Vùng III
Duyên-Hải 80
- Vùng IV Duyên-Hải 85
- Vùng V Duyên-Hải 89
Chương VI Những Đột
Biến Tại Các Vùng Sông-Ngòi 90
- Vùng III
Sông-Ngòi 90
- Những Trận Chiến Trên Vàm-Cỏ-Tây 91
- Những Trận Chiến Trên Vàm-Cỏ-Đông 95
- Vùng IV Sông-Ngòi 99
Chương VII Kế
Hoạch Phòng Thủ 107
Chương VIII Chuyến Ra Khơi
Bi Hùng 110
Hải-Vận-Hạm Lam-Giang, Một Huyền Thoại 122
Hướng Về Subic Bay 125
Chương IX Phỏng Vấn Những
Nhân Vật Liên Hệ Đến Chuyến Ra Khơi
Cuối
Cùng Của Hải-Quân V.N.C.H. 127
- Nguyên Phó-Đô-Đốc Chung Tấn Cang 128
- Nguyên Đề-Đốc Trần Văn Chơn 131
- Nguyên Trung Tướng Tổng-Tham-Mưu-Trưởng Vĩnh Lộc 135
- Nguyên Đại-Tá Lê Quang Mỹ 139
- Nguyên Phụ-Tá Tổng-Trưởng Quốc-Phòng
Hoa-Kỳ,
ông Richard
Lee Armitage 140
- Nguyên Phó-Đề-Đốc Đặng Cao
Thăng 142
- Nguyên Trung Tướng Lâm Quang Thi 143
- Nguyên Phó-Đề-Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại 144
Chương X Những Vị Anh
Hùng Hải-Quân V.N.C.H. 145
- Biệt-Hải Nguyễn Văn Kiệt 146
- Cố Phó-Đề-Đốc Hoàng Cơ Minh 149
- Cố Hải-Quân Thiếu-Tá Đặng Hữu Thân 150
- Cố Hải-Quân Thiếu-Tá Lê Anh Tuấn 152
Chương XI Những Dòng Ký
Ức 153
- Hồi Ký Lãnh Tàu (Cựu Hải-Quân Đại-Tá Nguyễn Ngọc Quỳnh) 154
- U.S.
Naval War College (Cựu Đề-Đốc Lâm Ngươn Tánh)
162
- Những Năm Tại Trường Hải-Quân Pháp (Cựu Phó-Đề-Đốc
Đặng Cao Thăng) 167
- U.S.
Navy Officer
Candidate School (Cựu Hải-Quân Đại-Úy
Hoàng Quốc Tuấn) 174
- U.S.
Naval Postgraduate School (Cựu Hải-Quân Trung-Úy
Trần Trúc Việt) 179
- Kỷ Niệm Với Dương-Vận-Hạm
Nha-Trang, HQ 505
(Điệp-Mỹ-Linh)
184
Phụ
Lục
CHƯƠNG I
SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HẢI-QUÂN VIỆT-NAM CỘNG-HÒA
Theo thỏa ước
được ký tại Paris ngày 30 tháng 12 năm 1949 giữa chính phủ Việt-Nam và Pháp,
quân đội Việt-Nam được thành lập. Trong sự tổ chức và huấn luyện để hình thành
quân đội Việt-Nam thuần nhất, Hải-Quân Việt-Nam ra đời.
Hải-Quân
Việt-Nam Cộng-Hòa (V.N.C.H.) ra đời và trưởng thành theo những diễn tiến sau
đây:
1950
Một số ít
thanh niên Việt-Nam được gửi sang Pháp thụ huấn ngắn hạn tại The Naval Academy
in Brest.
1951
Dự án về một
Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Việt-Nam được khởi xướng. Cũng trong năm này, hai
đơn vị Hải-Quân chiến đấu được dự trù sẽ thành lập.
Tháng 11 năm 1951,
công cuộc xây cất Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Nha-Trang bắt đầu.
Hải-Quân có
một tàu dầu, HQ 470.
1952
Ba trăm năm
mươi nhân viên được tuyển chọn; một số ít được gửi sang thụ huấn tại The Naval
Academy in Brest; và năm mươi người
trở thành hạ sĩ quan.
- Tháng 3 ngày
6, Hải-Quân Việt-Nam chính thức ra đời.
- Tháng 5 ngày 20, Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân được thành
lập.
- Tháng 7 ngày 12, Đô-Đốc Ortoli khánh thành
Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Nha-Trang. Cũng trong tháng này, Hải-Quân
Việt-Nam nhận lãnh trách nhiệm trên sông và dọc bờ biển.
- Tháng 9, chín sĩ quan Hải-Quân Việt-Nam đầu tiên –
khóa I Hải-Quân Nha-Trang – được huấn luyện tại Việt-Nam tốt nghiệp và ra
đơn vị phục vụ. Khóa này gồm một số cựu sinh viên Hàng-Hải Thương-Thuyền.
- Tháng 10, sáu ứng viên được tuyển chọn để theo học
tại The Naval Academy in Brest.
1953
Trong chiều
hướng bành trướng quân đội Việt-Nam, hai đơn vị chiến đấu Hải-Quân Việt-Nam –
đã được dự trù từ năm 1951 – được thành lập. Cũng trong thời gian này, vấn đề
được đặt ra là Bộ-Binh hay Hải-Quân kiểm soát các giang đỉnh. Vấn đề này khiến Phó-Đề-Đốc
Auboyneau nẩy sinh ý kiến và đề nghị thành lập đơn vị Thủy-Quân Lục-Chiến.
- Tháng 4 ngày 10, đơn vị Hải-Quân
Việt-Nam
đóng tại Cần-Thơ là đơn vị Hải-Quân đầu tiên mang Quốc-Kỳ Việt-Nam. Đơn vị này
được trang bị: 1 Commandement, 2 LCM, 2 LCVP. (1)
- Cuối tháng 4, Pháp chuyển giao cho
Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Nha-Trang một LSIL. Chiến hạm này mang cờ Pháp.
- Tháng 6, đơn vị Hải-Quân tại
Vĩnh-Long hoạt động. Lúc này sự tranh luận về Quốc-Kỳ trên kỳ đài của các chiến
đỉnh bộc phát giữa chính phủ Việt-Nam và Pháp.
1954
- Tháng 1, Hải-Quân Việt-Nam có 22
sĩ quan và 684 đoàn viên.
- Tháng 2 ngày 11, vấn đề Quốc-Kỳ
được giải quyết thỏa đáng. Pháp chuyển giao cho Hải-Quân Việt-Nam 3 YMS: HQ
211, HQ 112 và HQ 213.
- Tháng 3, Hải-Quân Việt-Nam nhận
thêm: 2 LCU và Hải-Đoàn 22 Xung-Phong.
- Tháng 7, hai Căn-Cứ tiếp vận được
thành lập; một tại Hải-Phòng; một tại Saigon.
Hải-Quân Việt-Nam có 45 sĩ quan và 975 đoàn viên.
- Tháng 8, Pháp chuyển nhượng
Hải-Đoàn 25 Xung-Phong.
- Tháng 10 ngày 30, Hải-Quân
Việt-Nam có 131 sĩ quan và sinh viên sĩ quan cùng 1353 thủy thủ. Trong số này
86 sinh viên sĩ quan và 233 thủy thủ được thụ huấn tại Pháp.
Khi chiến
tranh Việt Pháp kết thúc Pháp đã chuyển giao cho Hải-Quân Việt-Nam:
- 4 Hải-Đoàn Xung-Phong
- 2 Căn-Cứ tiếp vận
- Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân
Nha-Trang
- 300 Wizards (Wizard dài 20 feet,
vỏ bằng nhựa, máy 25 mã lực, chạy bằng dầu cặn).
Hải-Quân
Hoa-Kỳ đã xuất hiện tại Việt-Nam từ tháng 8 năm 1950 với một thành phần rất
nhỏ, gồm 8 sĩ quan trong MAAG (Military Assistance Advisory Group); nhưng mãi
đến năm 1954 quân nhân Hoa-Kỳ mới trở thành cố vấn cho Hải-Quân Việt-Nam.
1955
- Tháng 6 ngày 30, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm bổ nhiệm
Tướng Trần Văn Đôn chỉ huy Hải-Quân.
- Tháng 8 ngày 20, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm chỉ định
Hải-Quân Thiếu-Tá Lê Quang Mỹ vào chức vụ Tư-Lệnh Hải-Quân kiêm Tư-Lệnh
Thủy-Quân Lục-Chiến.
Ngay khi vừa
nhận chức, Tư-Lệnh Hải-Quân Lê Quang Mỹ bổ nhiệm sĩ quan Hải-Quân Việt-Nam vào
những chức vụ then chốt, thay thế sĩ quan Pháp.
Kể từ tháng
này, mỗi năm Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Nha-Trang đào tạo khoảng 1.200 nhân
sự các cấp.
- Tháng 11 ngày 7, Pháp chuyển giao Trung-Tâm
Huấn-Luyện Hải-Quân Nha-Trang cho Hải-Quân Việt-Nam.
- Tháng 12 ngày 7, để bành trướng những hoạt động ở
sông rạch, mỗi Hải-Đoàn được trang bị: 6 LCM, 4 LCVP, 6 Hors-Bord có vận
tốc cao.
Hải-Quân Việt-Nam
tiếp nhận hai LSSL: HQ 225, HQ 226 và một FS HQ 451.
Thời điểm này
Hải-Quân Việt-Nam có 4.000 nhân sự, kể cả 1.837 Thủy-Quân Lục-Chiến.
Cũng trong năm
này, Hải-Quân Việt-Nam thành lập 3 Lực-Lượng chính yếu.
- Hải-Trấn gồm:
- 4 Duyên-Khu. Bộ-Chỉ-Huy của mỗi
Duyên-Khu đặt tại Phú-Quốc, Nha-Trang, Vũng-Tàu, Đà-Nẵng.
- 3 Thủy Xưởng đặt tại Saigon,
Cần-Thơ và Đà-Nẵng.
- Trung-Tâm Huấn-Luyện Nha-Trang.
- Hải-Lực gồm:
- 3 YMS: HQ 211, HQ 112 và HQ 113
- 2 LSSL: HQ 225 và HQ 226
- 4 LSM: HQ 400, HQ 401, HQ 402 và
HQ 403
- 10 WBP
- Giang-Lực gồm 5 Hải-Đoàn.
Mỗi Hải-Đoàn
được trang bị: 5 LCM, 4 LCVP, 5 Hors-Bord, 5 LCU và 4 YTL.
Hậu cứ của Hải-Đoàn
được đặt tại Cần-Thơ, Mỹ-Tho, Vĩnh-Long và Long-Xuyên.
Bộ-Chỉ-Huy của
ba Lực-Lượng này đều đặt tại Saigon.
Tháng 12
ngày 21, Tư-Lệnh Hải-Quân Việt-Nam Lê Quang Mỹ công bố sự hình thành của
Thủy-Quân Lục-Chiến Việt-Nam.
1956
Lực-Lượng
Hải-Thuyền được đề xướng nhưng chưa được phê chuẩn.
Hải-Lực nhận 5
LSIL: HQ 327, HQ 328, HQ 329, HQ 330 HQ 331; 1 PC HQ 04 và 1 YWN HQ 9118.
1957
Tháng 5, sĩ
quan Hải-Quân Pháp cuối cùng rời Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Nha-Trang, giao hoàn
toàn trọng trách huấn luyện cho sĩ quan Hải-Quân Việt-Nam.
Hải-Quân
Việt-Nam nhận: 2 LCM, 1 LSSL HQ 227 và nhiều MLC. MLC là loại tiểu đỉnh có khả
năng chạy trên sông và trên ruộng lup xúp nước.
Hầu hết những
giang đỉnh và chiến hạm này đều do Hoa-Kỳ viện trợ cho Pháp trong thời kỳ chiến
tranh Đông-Dương và Pháp giao lại cho Việt-Nam. Khi chuyển giao những chiến hạm
và tiểu đỉnh đó cho Hải-Quân Việt-Nam, Hải-Quân Pháp, không hiểu nguyên do nào,
đã phá hoại bằng cách bỏ cát trong dầu chạy máy hoặc nhận bùn vào các ống dẫn
dầu, khiến một số chiến hạm xử dụng được một thời gian ngắn rồi bị phế thải!
1958
Khóa sĩ quan
Hải-Quân Việt-Nam đầu tiên – khóa 8 Hổ-Cáp – được chính sĩ quan Hải-Quân
Việt-Nam tuyển mộ và huấn luyện.
1959
Lực-Lượng
Hải-Thuyền được thành lập.
Thời gian này
Giang-Lực có tổng cộng 96 giang-đỉnh, tổ chức thành 5 Hải-Đoàn.
Hải-Lực nhận 3 MSC:
HQ 114, HQ 115 và HQ 116.
Nâng tổng số
chiến hạm và chiến đỉnh lên đến 119 chiếc.
Nhiều sĩ quan,
hạ sĩ quan được gửi sang Hoa-Kỳ tu nghiệp. Vị sĩ quan cao cấp đầu tiên theo học
tại The Naval War College ở Newport Rhode Island là Hải-Quân Trung-Tá Trần Văn
Chơn. Sĩ quan trung cấp tu nghiệp tại The Naval Postgraduate School ở Monterey,
California.
1960
40 sĩ quan và
60 hạ sĩ quan được gửi sang Hoa-Kỳ tu nghiệp.
Hải-Quân
Việt-Nam cũng gửi một toán tình-nguyện-quân sang Đài-Loan thụ huấn về Underwater
Demolition Team (UDT) để trở thành những Biệt-Hải đầu tiên của Hải-Quân.
- Tháng 4 ngày 2, 45 tân sĩ quan Hải-Quân khóa 8
Hổ-Cáp ra trường.
- Tháng 7, khóa đầu tiên với 400 đoàn viên Hải-Thuyền
được tuyển mộ và huấn luyện tại Đà-Nẵng, dưới sự chỉ huy của Hải-Quân
Trung-Úy Nguyễn Văn Thông.
- Tháng 12, bốn Duyên-Đoàn đầu tiên được thành lập và
đóng tại Cửa Việt, Huế, Đà-Nẵng và Hội-An.
Cũng trong năm
này, Lực-Lượng Hải-Thuyền chính thức ra đời.
Thời gian này,
Lực-Lượng Giang-Cảnh cũng được thành lập với: 18 RPC, 4 LCM và 8 LCVP.
Hải-Quân
Trung-Tá Chung Tấn Cang là vị sĩ quan thứ hai được tu nghiệp tại The Naval War
College. Từ thời gian này trở về sau, mỗi năm một sĩ quan cao cấp Hải-Quân được
theo học tại Đại-Học Quân-Sự này.
Hải-Quân nhận
1 PC HQ 6.
1961
Liên Đội Người
Nhái được thành lập.
Chương trình
Military Assistance Program (MAP) chấp thuận
406 sĩ quan Hải-Quân Việt-Nam du học Hoa-Kỳ về tất cả ngành chuyên môn của
Hải-Quân. Ngoài ra, nhiều sĩ quan được
đưa ra thực tập trên những chiến
hạm thuộc Đệ Thất Hạm-Đội Hoa-Kỳ.
Thời điểm này
Hải-Quân Việt-Nam có gần 6.000 quân, kể cả sĩ quan, hạ sĩ quan và đoàn viên.
Lực-Lượng
Hải-Thuyền có 80 ghe đủ loại, tuần tiễu từ Vùng I Duyên-Hải, bên này vĩ tuyến
17.
Hải-Lực nhận: 1 LSM HQ 404 và 1 PCE HQ 7.
Tổng số chiến hạm của Hải-Lực là 21 chiếc.
1962
- Tháng 2, Bộ-Chỉ-Huy Lực-Lượng Giang-Phòng được
thành lập và trực thuộc Bộ-Tư-Lệnh Địa-Phương-Quân.
Lực-Lượng
Hải-Thuyền bành trướng với: 800 đoàn viên, 28 Duyên-Đoàn, 61 ghe chủ-lực, 200
ghe di-cư, 320 ghe buồm và 23 ghe chủ-lực đang đóng.
Ghe chủ-lực
chạy bằng dầu cặn, máy 225 mã lực.
- Tháng 6, Lực-Lượng Giang-Phòng nhận 145 LCVP để
trang bị cho 24 Đại-Đội Tuần-Giang.
- Tháng 8, Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Nha-Trang
tuyển chọn gấp đôi số sinh viên – từ 50 sinh viên cho mỗi khóa tăng lên
100 sinh viên – và thời gian thụ huấn được rút ngắn còn 18 tháng, thay vì
hai năm như những khóa trước.
- Tháng 10, sáu mươi hai Người Nhái tốt nghiệp, do sự
huấn luyện của U.S. Navy SEALs (Sea, Air, and Land Forces).
Cũng thời gian
này, Hải-Đoàn 22 Xung-Phong được thành lập với 19 chiến đỉnh và hơn 200 đoàn
viên.
Hải-Lực tiếp
nhận 2 PCE: HQ 8 và HQ 9, 1 LSM HQ 405, 2 LST: HQ 500 và HQ 501.
1963
Năm Thủy Xưởng
được thành lập tại các Duyên-Khu. Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Thuyền tại Phú-Quốc
được dời về Cam-Ranh.
Được chương
trình MAP chấp thuận, Hoa-Kỳ chuyển giao cho
Hải-Lực:
- 10 PGM: Từ HQ 600 đến HQ 609
- 1 LST HQ 502
- 1 YOG HQ 471
- 12 MLM:
Từ HQ 150 đến HQ 161
- 2 MSF (Nguyên thủy của Hải-Quân
Hoa-Kỳ là MSF 300 Serene và MSF 301 Shelter. Về sau hai Tuần-Duyên-Hạm này được
biến cải thành hai Hộ-Tống-Hạm.)
Giang-Lực nhận
24 Monitors và một số LCVP, nâng tổng số giang đỉnh lên 208 chiếc.
Thời gian này
Hải-Quân có hơn 6.000 quân các cấp; Lực-Lượng Hải-Thuyền có 66 sĩ quan (sĩ quan
Hải-Quân), 375 hạ sĩ quan và 3.359 đoàn viên.
1964
Lực-Lượng
Hải-Tuần được thành lâp, trực thuộc Sở Phòng-Vệ Duyên-Hải. Một Trung Úy
Hải-Quân và hầu hết nhân viên thuộc Biệt-Hải được biệt phái Sở Phòng-Vệ
Duyên-Hải.
- Tháng 1,
Hải-Quân có 6.467 sĩ quan.
- Tháng 2 ngày 22, hai PT đầu tiên đến Đà-Nẵng, đặt
dưới quyền xử dụng của Lực-Lượng Hải-Tuần, thuộc Sở Phòng-Vệ Duyên-Hải.
- Tháng 6, danh xưng Bộ-Chỉ-Huy Lực-Lượng Giang-Phòng
được đổi thành Bộ-Chỉ-Huy Liên-Đoàn Tuần-Giang và trực thuộc Bộ-Tư-Lệnh
Hải-Quân.
- Tháng 11, Hải-Quân có 8.162 sĩ quan.
Trung-Tâm Huấn-Luyện Kỹ Thuật Hải-Quân (Engineering
School) ở Saigon
được dời ra Cam-Ranh. Từ đó, Thủy-Quân Lục-Chiến tuần tự chuyển nhượng Căn Cứ
Cam-Ranh cho Hải-Quân.
Hải-Lực tiếp nhận:
- 2 PGM: HQ 610 và HQ 611
- 2 PCE: HQ 10 và HQ 11
Tổng số chiến hạm là 44 chiếc.
Ghe buồm của Lực-Lượng Hải-Thuyền được từ từ
thay thế bằng ghe xi-măng Yabuta (Ferro ciment, đóng tại Hải-Quân Công-Xưởng).
Thời điểm này Giang-Lực lớn mạnh với 7
Hải-Đoàn; mỗi Hải-Đoàn có 19 giang đỉnh.
Cũng trong năm này, nhiều Căn-Cứ lớn được
thành lập tại những hải cảng quan trọng như Cam-Ranh, Đà-Nẵng, Phú-Quốc.
1965
- Tháng 7, Lực-Lượng Hải-Thuyền được
sát nhập vào Hải-Quân với 4.000 nhân viên, 389 ghe chủ-lực, 95 ghe buồm; được
chia thành 28 Duyên-Đoàn, đóng rải rác tại 22 Căn-Cứ Hải-Quân. Mỗi Duyên-Đoàn
trang bị: 3 ghe chủ-lực, 3 ghe di-cư, 16 ghe chèo.
Về sau, tất cả
loại ghe này được thay thế bằng Yabuta.
Hải-Lực tiếp
nhận:
- 3 LSSL: HQ 228, HQ 229 và HQ 230
- 2 PC: HQ 05 và HQ 02
- 1 LSM HQ 406
Lúc này
Hải-Lực có 2.000 quân, kể cả sĩ quan và đoàn viên. Nhiều LSIL và LSSL tuần tiễu
trên sông Mékong. Một trong những LSIL và LSSL này được biệt phái cho Đặc-Khu
Rừng-Sát. Ba LST và vài LSM được xử dụng để chuyên chở quân dụng.
Một LSM được
chỉnh trang thành bệnh-viện-hạm với đầy đủ dụng cụ y khoa.
Vào thời điểm
này quân số Hải-Quân tổng cộng là 13.000, kể cả sĩ quan, hạ sĩ quan và đoàn
viên.
Cũng trong năm
này, danh từ Hải-Đoàn được thay bằng Giang-Đoàn Xung-Phong (River Assault
Group).
Sáu trong bảy Giang-Đoàn
Xung-Phong được trang bị: 1 Commandement, 1 Monitor, 5 LCM, 6 LCVP, 6 Fom.
Riêng
Giang-Đoàn 27 Xung-Phong được trang bị: 1 Commandement, 1 Monitor, 6 LCM, 10
RPC.
Mỗi Giang-Đoàn
có 150 nhân sự, gồm sĩ quan, hạ sĩ quan và đoàn viên.
Bảy sĩ quan
được sang Hoa-Kỳ theo học tại The Naval Postgraduate School.
1966
Hải-Lực tiếp nhận:
- 1 EPCER HQ 12
- 1 LSSL HQ 231
- 4 PGM: HQ 612, HQ 613, HQ 614 và
HQ 615
Hai sĩ quan
được theo học tại The Naval Postgraduate School, Hoa-Kỳ.
Cuối năm,
Giang-Đoàn 51 và Giang-Đoàn 52 Tuần-Thám được chuyển giao cho Hải-Quân V.N.C.H.
tại Căn-Cứ Cát-Lái.
1967
Hải Quân Việt
Nam Cộng Hòa – với nhân số gần 9.000 sĩ quan, 27.000 hạ sĩ quan và đoàn viên –
là một Lực-Lượng Hải-Quân lớn vào hàng thứ 14 trên toàn thế giới.
Hải lực nhận 4
PGM: HQ 616, HQ 617, HQ 618 và HQ 619.
1968
- Tháng 2, Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân Nha-Trang
trở thành Trung-Tâm Huấn-Luyện sĩ quan Hải-Quân Nha-Trang. Trung-Tâm
Huấn-Luyện Cam-Ranh đào tạo thủy thủ và hạ sĩ quan. Trung-Tâm Huấn-Luyện
Bổ-Túc Saigon trao dồi thêm về kỹ thuật và kiến thức chuyên môn.
- Tháng 6 Giang-Lực nhận nhiều PBR
theo tinh thần viện trợ của chương trình M.A.P.
- Tháng 11, chương trình “Việt-Nam hóa chiến tranh”
(ACTOV – Accelerated Turnover to the Vietnamese) chuyển nhượng 500 chiến
hạm và chiến đỉnh đủ loại. Nhiều Tiền-Doanh Yểm-Trợ cũng được bàn giao cho
Hải-Quân Việt-Nam.
Một sĩ quan
được sang Hoa-Kỳ tu nghiệp tại The Naval Postgraduate School.
1969
Ba Lực-Lượng
tác chiến Sông-Ngòi được thành lập:
- Lực-Lượng Tuần-Thám
- Lực-Lượng Thủy-Bộ
- Lực-Lượng Trung-Ương
Hải-Lực được chuyển nhượng:
- 1 LST HQ 503
- 8 WPB: Từ HQ 700 đến HQ 707
Tháng 7,
khoảng 425 PBR được Hoa-Kỳ chuyển nhượng cho
Hải-Quân Việt-Nam trong một buổi lễ rất trang trọng, trước Bộ-Tư-Lệnh Hải-Quân,
dưới sự chủ tọa của Tư-Lệnh Hải-Quân Việt-Nam và Tư-Lệnh Hải-Quân Hoa-Kỳ tại
Việt-Nam, cùng nhiều sĩ quan cao cấp Việt-Mỹ.
1970
Những chiến
hạm sau đây được Hoa-Kỳ chuyển giao cho Hải-Quân Việt-Nam:
- 1 MSF HQ 13
- 2 YOG: HQ 473 và HQ 474
- 3 LST: HQ 504, HQ 505, HQ 800
- 1 PCER HQ 14
- 18 WPB: Từ HQ 708 đến HQ 725
Cũng theo
chương trình Việt-Nam hóa chiến tranh, ACTOV, Hải-Quân Hoa-Kỳ chuyển nhượng cho
Hải-Quân Việt-Nam 242 chiến đỉnh.
Một sĩ quan
được sang Hoa-Kỳ, theo học tại The Naval Postgraduate School.
1971
Hải-Quân
Việt-Nam tiếp nhận từ Hải-Quân Hoa-Kỳ:
- 2 DER:
HQ 1 và HQ 4
- 4 WHEC: HQ 2, HQ 3, HQ 5 và HQ 6
- 2 LST loại lớn: HQ 801 và HQ 802
Một sĩ quan
theo học tại The Naval Postgraduate School, Hoa-Kỳ.
1972
Hải-Quân Hoa-Kỳ
chuyển nhượng cho Hải-Quân Việt-Nam:
- 3 WHEC: HQ 15, HQ 16 và HQ 17
- 1 YOG HQ 475
- Và hầu hết những Căn-Cứ của
Hải-Quân Hoa-Kỳ tại Việt-Nam.
Bốn sĩ-quan
được gửi sang tu nghiệp tại U.S. Naval Postgraduate School, Hoa-Kỳ.
Năm này, quân
số Người Nhái tăng đến 600 người.
1973
Sáu sĩ-quan
được sang Hoa-Kỳ tu nghiệp tại U.S. Naval Postgraduate School.
1974
Năm sĩ quan
được tu nghiệp tại U.S. Naval Postgraduate School.
1975
Mười chín sĩ quan
tu nghiệp tại U.S. Naval Postgraduate School. Một sĩ quan cao cấp Hải-Quân tu
nghiệp tại The Naval War College. Những sĩ quan này bị kẹt lại Hoa-Kỳ khi miền Nam
thất thủ.
Thời gian này
Lực-Lượng Hải-Quân Việt-Nam gồm có:
- 5 Vùng Duyên-Hải
- 2 Vùng Sông-Ngòi
- Hạm-Đội với 83 chiến hạm đủ loại
- 650 sĩ-quan
- 7.000 đoàn viên
- Mỗi chiến hạm có một sĩ-quan cơ khí
- Lực-Lượng Duyên-Phòng 213 thuộc Hành-Quân
Lưu-Động-Biển
- 28 Duyên-Đoàn
- Bốn Lực-Lượng Đặc Nhiệm thuộc Hành-Quân
Lưu-Động-Sông:
- Lực-Lượng Thủy-Bộ (Lực-Lượng
Đặc-Nhiệm 211)
- Lực-Lượng Tuần-Thám (Lực-Lượng
Đặc-Nhiệm 212)
- Lực-Lượng Trung-Ương (Lực-Lượng
Đặc-Nhiệm 214)
- Lực-Lượng Đặc-Nhiệm 99 – được
thành lập cấp tốc vào thánh 4 năm 1975
- Liên-Đoàn Tuần-Giang
- 20 Giang-Đoàn Xung-Phong
- 3 Trung-Tâm Huấn-Luyện
- Hải-Quân Công-Xưởng tại Saigon
và vài Thủy Xưởng khác
- Nhiều Căn-Cứ Tiền-Doanh Yểm-Trợ
rải rác khắp 5 Vùng Duyên-Hải và 2 Vùng Sông-Ngòi
- Bệnh Xá Bạch-Đằng với tòa nhà hai
tầng đồ sộ, trang bị đầy đủ dụng cụ y-khoa, tọa lạc đối diện Hải-Quân
Công-Xưởng
Thời điểm này quân số Hải-Quân lên đến hơn 40.000.
CHƯƠNG II
CÁC VỊ TƯ-LỆNH HẢI-QUÂN
Kể từ khi
thành lập cho đến tháng 4 năm 1975, những sĩ quan sau đây tuần tự đảm nhiệm
chức vụ Tư-Lệnh Hải-Quân:
- Hải-Quân Thiếu-Tá Lê Quang Mỹ 20/8/1955 – 1957
- Hải-Quân Trung-Tá Trần Văn Chơn 1957 – 1959
- Hải-Quân Đại-Tá Hồ Tấn Quyền 6/8/1959 – 1963
- Hải-Quân Đại-Tá Chung Tấn Cang 11/1963 – 1965
- Hải-Quân Đại-Tá Trần Văn Phấn 26/4/1965
– 1966
- Trung-Tướng Cao Văn Viên 9/1966
– 10/1966
- Hải-Quân Đại-Tá Trần Văn Chơn * 31/10/1966 – 1974
- Đề-Đốc Lâm Ngươn Tánh 1974 – 1975
- Phó-Đô-Đốc Chung Tấn Cang 3/1975 – 4/1975
* Khi bàn giao chức vụ
Tư-Lệnh cho Đề-Đốc Lâm Ngươn Tánh, nguyên Tư-Lệnh Trần Văn Chơn mang cấp bậc Đô-Đốc.
Tư-Lệnh
Hải-Quân Đầu Tiên Hải-Quân Thiếu-Tá Lê Quang Mỹ
Tư-Lệnh Hải-Quân Cuối Cùng Phó-Đô-Đốc Chung Tấn Cang
Vị sĩ quan Hải-Quân cao cấp nhất bị Cộng Sản cầm tù Nguyên Tư-Lệnh Hải-Quân Cựu Đề-Đốc Trần Văn Chơn
Tài liệu lịch sử: Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Ra Khơi, 1975 Chương III và IV
QSVN 1
QSVN2a
QSVN2b
QSVN2c
QSVN2d
QSVN 3a
QSVN4a
QSVN5 (phần chót)

