Điện Thần Việt tôn thờ chư tướng thần
Sinh ra là Tướng chết đi thành thần
Thế, Ân, Thanh, Trí, Phú, Vỹ, Hai, Hưng, Nam
Ngàn năm sau ghi nhớ gương anh hào.
Trúc Lâm Lê An Bình sưu khảo, Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính
(trích Thần Việt Điện tức Tân U Linh Việt Điện)
I. Dẫn Nhập - Nguyên Nhân Xa, Thời Tối Cổ:
Biểu tượng của nền văn minh
tối cổ của tộc Việt là Đông Sơn và Lạch Trường. Hai nền văn minh
này đã hiện diện và tồn tại cùng với tộc Việt chúng ta 5000 năm
trước Công nguyên. Sự hiện diện và tồn tại này trước cả nền văn
minh của người Tầu phương Bắc cả 4000 năm.
Đã là một dân tộc hiện diện
lâu đời như thế trên một vùng đất phì nhiêu trù phú; tổ tiên chúng
ta biết tổ chức đời sống có trật tự, tôn ty, trong một khoảng
không gian cố định, biết tưởng nhớ tiền nhân, anh hùng, liệt nữ,
cũng như biết tôn xưng vị lãnh đạo, thờ kính những hiện tượng
thiên nhiên v.v...Tất cả những điều nêu trên là tư tưởng Việt
Nam, và nó đã được hệ thống hóa dưới một tên gọi khác là nền Văn
Hiến Chi Bang của một đất nước tự lập, tự cường.
Việc tôn thờ, tôn xưng những
anh hùng, liệt nữ của dân tộc Việt là một truyền thống từ ngàn
xưa, đồng thời cũng là một trong những biểu tượng của nền Văn Hiến
của 5000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước.
II. Nguyên Nhân Gần - Thời Trung Đại:
Đời vua Trần Nhân Tông,
tháng 4, mùa hạ năm 1285, tổ chức xét định công trạng những người đã
đánh quân Nguyên. Như tấn phong Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn
làm Đại vương; Hưng Vũ vương Nghiện làm Khai quốc công; Hưng
Nhượng vương Tảng làm tiết độ sứ. Ngoài ra người nào có công lớn
đều được tứ quốc tính, Trần Khắc Chung cũng được dự ân tứ này và
vẫn giữ chức Đại hành khiển; Nguyễn Khoái làm liệt hầu và được
ban cho một "hương" (làng) gọi tên là Khoái lộ. Người tù trưởng
Man ở Lạng Giang là Lương Uất, Hà Tất Năng vì biết đốc suất dân
đánh giặc, nên Lương Uất được phong làm chủ trại Quy Hóa; Tất
Năng được phong tước quan phục hầu; Đỗ Hành vì khi bắt được Ô Mã
Nhi, không đem nộp nhà vua, nên chỉ được phong tước quan nội hầu;
Hưng Trí vương Nghiễn vì trái tướng lệnh, ngăn cản đường quân
Nguyên rút về nước, nên không được thăng trật.
Sau khi tước thưởng đã ban hành rồi, có người thắc mắc vì sao ban thưởng ít, thượng hoàng Trần Thánh Tông an ủi rằng: "Nếu
các ngươi biết chắc rằng giặc Nguyên không sang nữa, thì dầu
phong đến cực phẩm, trẫm cũng không tiếc gì, nhưng nếu một mai
giặc lại kéo sang, mà lúc ấy các ngươi lại có chiến công, thì trẫm
biết hậu đãi các ngươi thế nào để khuyến khích thiên hạ được?". Mọi người nghe xong không ai có ý kiến gì cả.
Nhà vua định những người đã
có công đánh giặc hai lần, người nào đã xung phong trước phá được
trận tuyến của giặc, lập được chiến công đặc biệt, nay được chép
vào tập Trùng hưng thực lục và khiến thợ vẽ hình dạng vào tập sách ấy.
Đời vua Trần Hiến Tông
(1329), có Lý Tế Xuyên là Thủ Đại tạng thư hỏa chính chưởng Trung
phẩm phụng ngự, An tiêm lộ chuyển vận sứ đã tập hợp những truyện
tích về các bậc anh hùng, anh thư tộc Việt có công giữ nước biên
chép thành quyển Việt Điện U Linh Tập gồm Lịch Đại Nhân Quân, Lịch
Đại Nhân Thần, Hạo Khí Anh Linh, tổng cộng là 27 truyện.
Mục đích nhằm xây dựng cuộc
sống tinh thần, tâm linh một cách lành mạnh mang màu sắc cổ truyền
cũng như gầy dựng lại một quá khứ thần thoại, hiển thánh của dân
tộc.
Việt Điện U Linh Tập của Lý
Tế Xuyên được biên chép khoảng giữa thế kỷ 13; Đến thế kỷ thứ 15
được tiến sĩ Nguyễn Văn Chất bổ túc thêm những chuyện khác vào. Tên
gọi là Việt Điện U Linh Tục Tập hay Tục Việt Điện U Linh Tập.
Như trên đã viết, đời vua
Nhân Tông ghi ơn những người có công đánh giặc Nguyên bằng cách
phong tước, phong hàm. Ngoài ra những ai lập chiến công đặc biệt
thì vẽ hình cũng như chép sự tích vào tập sách Trùng hưng thực lục.
Đồng thời một Thần Việt Điện đã được dựng nên (ghi chép và phổ
biến Việt Điện U Linh Tập) để cho dân chúng tôn thờ những vị thần
của tộc Việt, để cho mọi người có thể hãnh diện với quá khứ cao
quý, hào hùng và thiêng liêng. Qua hành động này cho chúng ta thấy
sự đối kháng mãnh liệt nhất của tộc Việt trên mặt văn hóa tư
tưởng đối với giặc Tầu phương Bắc.
III. Nguyên Nhân Gần - Thời Cận Đại:
Tiếp nối tinh thần tôn vinh
những bậc anh hùng dân tộc mà Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên
đã thực hiện vào khoảng giữa thế kỷ thứ 13 và được tiến sĩ
Nguyễn Văn Chất bổ túc vào thế kỷ thứ 15 qua Việt Điện U Linh Tục
Tập, Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên
Tử thành lập Thần Việt Điện 2010 (trên trang Trúc Lâm Yên Tử) để tôn thờ những bậc anh hùng, anh thư thời hiện đại.
Ôn cố tri tân là tinh thần
không thể thiếu vắng được ở bất kỳ không gian và thời gian nào.
Chiến cuộc Việt Nam hay chiến tranh Đông Dương khởi sự từ 1946 và
kết thúc năm 1975, đã gieo biết bao cảnh thống khổ đau thương cho
đất nước và dân tộc Việt Nam.
Trong suốt cuộc chiến đã có
không biết bao nhiêu bậc anh hùng, anh thư đã xã thân liều mình bảo
vệ đất nước và dân tộc Việt trước làn sóng xâm lăng từ phương
Bắc của Cộng sản Việt Nam.
Nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày
quốc tang, quốc hận 30/04/1975 - 30/04/2010, với tinh thần tri ân
và tôn vinh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung, đặc biệt những
vị tướng lãnh đã hy sinh trong lúc thi hành công vụ từ lúc khởi
đầu của cuộc chiến cũng như những vị đã bất khuất không chấp nhận
đầu hàng quân Bắc xâm Việt cộng ngày 30/04/1975.
Chúng tôi chân thành tôn xưng
Chín Vị Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là Cửu Đại Thần
Tướng Việt Nam - thời cận đại vì họ đã hy sinh trong lúc thi hành
công vụ, cũng như biểu hiện khí phách phi thường của một bậc thần
tướng; ngoài ra, những vị này cũng đã thi thố tài ba trên chiến
trường làm binh sĩ các cấp kính phục cũng như đã chỉ huy các đơn
vị thuộc quyền chiến thắng quân thù một cách vẻ vang. Hơn nữa, họ
đã chứng minh là những vị Tướng lãnh biết nhận trách nhiệm trước
lịch sử dân tộc.
Chín vị tướng lãnh đó là:
1/ Thần tướng Trình Minh Thế (1922 - 1955)
2/ Thần tướng Trương Quang Ân và phu nhân (1932 - 1968; 1931-1968)
3/ Thần tướng Nguyễn Viết Thanh (1930 - 1970)
4/ Thần tướng Đỗ Cao Trí (1929 - 1971)
5/ Thần tướng Phạm Văn Phú (1929 - 1975)
6/ Thần tướng Lê Nguyên Vỹ (1933 - 1975)
7/ Thần tướng Trần Văn Hai (1929 - 1975)
8/ Thần tướng Lê Văn Hưng (1933 - 1975)
9/ Thần tướng Nguyễn Khoa Nam (1927 - 1975)
Chúng tôi sắp xếp theo thứ tự
ngày tháng thành thần của chư vị Tướng lãnh nêu trên. Riêng
trường hợp Thiếu tướng Trương Quang Ân vì có phu nhân cùng tử nạn
nhưng chúng tôi vẫn xin tôn xưng chung là Cửu Đại Thần Tướng Việt
Nam.
Sự tôn xưng này xin được xem
như là biểu tượng, một biểu tượng cao quý. Và là một ý thức hệ thần
thoại cao quý để ghi ơn các bậc thần Tướng có công giúp nước cứu
dân.
Việc tôn xưng chư vị tướng lãnh nêu trên còn dựa trên 3 điểm:
Đạo Đức với chính bản thân
Nhân Nghĩa với người ngoài
Thao lược trên chiến trường
Ngoài ra chúng tôi dựa vào giây phút thành Thần của chư vị như sau:
Một vị bị ám sát tại mặt trận (Trung tướng Trình Minh Thế)
Ba vị tử nạn phi cơ khi thi hành nhiệm vụ (Thiếu tướng Trương
Quang Ân, Đại tướng Đỗ Cao Trí, Trung tướng Nguyễn Viết Thanh)
Năm vị tuẫn tiết không đầu hàng quân thù (Thiếu tướng Phạm Văn
Phú, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn
tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn tướng Trần Văn Hai).
IV. Sự Tích Cửu Đại Thần Tướng Việt Nam Thời Cận Đại:
1/ Thần Tướng Trình Minh Thế
2/ Thần Tướng Trương Quang Ân Và Phu Nhân
3/ Thần Tướng Nguyễn Viết Thanh
4/ Thần Tướng Đỗ Cao Trí
5/ Thần Tướng Phạm Văn Phú
6/ Thần Tướng Lê Nguyên Vỹ
7/ Thần Tướng Trần Văn Hai
8/ Thần Tướng Lê Văn Hưng
9/ Thần Tướng Nguyễn Khoa Nam

