- Lichsuvietnam cận đại ghi ngày hiệp-định Ba-Lê có hiệu lực,
chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ghi nhận có hơn 1000 vụ vi phạm của Việt
cộng. Ngoài ra, trong suốt năm 1973 còn có 5 trận giao tranh lớn xảy ra
ở Cửa Việt, Sa Huỳnh, Hồng Ngự, Trung Nghĩa và Tống Lê Chân.
- Trong đó căn cứ Tống Lê
Chân bị quân Việt cộng tấn công ngay ngày hiệp định Paris có hiệu lực
(28/01/1973), người anh hùng tử thủ là Trung tá Lê Văn Ngôn cùng Tiểu
đoàn 92 Biệt Động Quân Biên Phòng. Để dứt điểm căn cứ này, quân Việt
cộng phải huy động Công trường 9, cùng trung đoàn 271, một Trung đoàn
pháo, một Trung đoàn phòng không cũng như một Lữ đoàn xe tăng. Chưa kể
quân trừ bị và chận viện. Cuộc chiến dứt điểm bắt đầu từ 05/04/1974 đến
1 giờ sáng ngày 13/04/1974 mới chiếm được đồn.
Tiểu đoàn 92 Biệt Động
Quân Biên Phòng và Trung tá Lê Văn Ngôn chỉ còn 259 binh sĩ đã chiến
đấu đến cùng và phải mở đường máu rút lui.
Căn cứ Tống Lê Chân bị
quân Việt cộng tấn công dồn dập trong 512 ngày. Tiểu đoàn 92 Biệt Động
Quân Biên Phòng và Trung tá Lê Văn Ngôn đã làm sáng danh Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa và xứng đáng là những chiến sĩ chiến đấu cho Hòa bình. Hòa
bình của đất nước Việt Nam thân yêu.
Sau khi đem đơn vị về đến
An Lộc, Trung tá Lê Văn Ngôn được cử đi học khoá Tham Mưu Trung Cấp
được cử về Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở trách nhiệm trung đoàn phó. Sau ngày
30/4/1975, Trung tá Ngôn cũng như biết bao chiến sĩ khác, lọt vào tay
giặc và bị đưa ra miền Bắc. Một tối mùa thu 1977, ông lặng lẽ qua đời
tại liên trại Yên Báy. Nhà văn quân đội Phan Nhật Nam đã đem người đàn
em vắn số của mình ra mộ huyệt chôn cất. Lê Văn Ngôn là anh hùng dân tộc trong lichsuvietnam cận đại.
- Mao Trạch Đông chủ tịch
nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa ra lịnh cho quân đội Trung cộng tấn
chiếm Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam Cộng Hòa ngày 17 tháng 1 năm
1974.
- Vào lúc 10 giờ sáng
ngày 19 Tháng 1 năm 1974, hạm đội Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa dưới sự
chỉ huy của Đại tá Hà Văn Ngạc đã đồng loạt nổ súng vào chiến hạm của
Hải quân Tàu cộng khi họ hành động xâm chiếm đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Sau nửa tiếng đồng hồ
giao tranh thì hai bên đều rút lui vì hai bên đều thiệt hại nặng cả.
Bên HQVN chiếc Nhật Tảo bị chìm, tử thương 58 người (đa số thuộc chiến
hạm Nhật Tảo và số còn lại thì gồm có hai người nhái trên đảo). Mỗi
chiến hạm có một số bị tử thương. Phía Tầu Cộng cũng bị thiệt hại nặng
nề, một chiếc bị chìm, về nhân mạng có một số sĩ quan cao cấp bị tử
thương, thành ra không thể nói bên nào chiến thắng hay chiến bại. Trong
lúc đó một lực lượng hùng hậu gồm 17 chiến hạm khác từ Hải Nam đang
hướng về hướng Hoàng Sa, trong đó có 13 chiến hạm với bốn chiếc tiềm
thủy đỉnh loại tàu ngầm .
Hải Quân Việt Nam Cộng
Hòa có tăng cường thêm hai chiếc nữa tức là sáu chiếc, nhưng khi hai
chiếc sau đang trên đường tới thì có tin phi cơ phản lực của Trung
Cộng từ đảo Hải Nam đến dội bom. Trong khi đó tầm hoạt động của phi cơ
F5 và A37 của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa không thể nào bay tới Hoàng
Sa được, để tránh thiệt hại không cần thiết hạm đội Việt Nam Cộng Hòa
phải bắt buộc rút lui.
Quân chủng Hải Quân đã
chọn ngày 19/1 hằng năm làm ngày tưởng niệm và vinh danh các chiến sĩ
HQ đã hy sinh bảo vệ Tổ quốc đại dương.
Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ
Thoại là Tư Lệnh Hải Quân vùng I Duyên Hải yêu cầu Đệ Thất Hạm Đội của
Hoa Kỳ cứu vớt người trên biển. Khi sự việc xảy ra rồi, không có chiến
hạm nào của Mỹ đến cứu vớt.
Trong dòng lichsuvietnam thập niên 70 đã ghi nhận Hải chiến Hoàng sa của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa chống lại quân xâm lược Trung cộng là một trong những trận hải chiến lớn nhất, có tầm vóc lịch sử nhất.
- Khi Tầu cộng xâm lăng
Hoàng sa của Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở miền Bắc đã
hoàn toàn im lặng không có một phản ứng nào. Họ âm thầm đàm phán về
biên giới với Tầu cộng từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1974 nhưng không đạt
được một kết quả nào.
- Đến đầu năm 1975, gần
hai năm sau Hiệp định ngưng bắn, tình hình Việt Nam ở trong giai đoạn
lạ lùng, không hòa cũng không chiến.
Ông Henry A. Kissinger,
Cố vấn an ninh của Tổng thống Nixon, tác giả Hiệp định Paris, được lãnh
nửa giải hòa bình Nobel đồng thời thăng chức Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ;
còn Tổng thống Nixon phải từ chức vì vụ tai tiếng Watergate; ông Gerald
Ford cầm đầu khối đa số Hạ viện Mỹ được cử thay thế.
Uy tín Tổng thống Việt
Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu ngày càng sa sút, còn Ngoại trưởng Trần
Văn Lắm lãnh chức Chủ tịch Thượng viện.
- Đầu năm 1975, Tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu đã kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu
theo kiểu quân đội nhà nghèo. Nhưng từ hai năm qua, Quân lực Việt Nam
Cộng Hòa đã không được cải tổ để thích ứng với tình hình chiến trường
mới.
- Các Sư đoàn tổng trừ bị
như Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù được cử trấn giữ các vùng đất như
binh sĩ sư đoàn Bộ Binh làm mất tính năng động cần thiết khi tình hình
chiến trường sôi động.
- Quân khu V của Việt
cộng tổ chức chiến dịch H-9 tấn công hai địa điểm Nông-Sơn và Thượng
Đức thuộc tỉnh Quảng-Nam. Họ tung vào các Sư đoàn 324B (hay Sư đoàn
Điện Biên), 308, và Sao vàng.
Ngày 06/08/1974, Thượng-Đức thất thủ.
Tiểu đoàn 79 Biệt Động Quân đã rút khỏi nơi này. Số phận của Tiểu đoàn
này cũng giống như tiểu đoàn 92 Biệt Động Quân khi rời khỏi căn cứ
Tống Lê Chân, những binh sĩ anh dũng này đã không được nhắc đến tên
tuổi...
Bộ tổng tham mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa gởi Sư đoàn Nhảy Dù ra Quảng-Nam tăng viện, nhưng đã quá trễ.
Các trận đánh ác liệt đã xảy ra giữa Sư Đoàn Nhảy Dù và 3 sư đoàn Việt cộng diễn ra trên các cao điểm 1235 và 1062. Trận
đánh khởi sự từ ngày 15 Tháng Tám đến ngày 8 tháng mười một năm
1974. Đây là trận đánh lớn nhất trong quân sử Việt Nam sau khi Hoa Kỳ
rút lui, và cũng là một trong những trận hiển hách nhất của QLVNCH. Cuối cùng quân Việt cộng đã phải rút khỏi đồi 1062 trước sức chiến đấu dũng mãnh và gan dạ của các chiến sĩ Nhảy Dù.
Sau khi Hoa Kỳ rút quân, viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hoà như sau:
-Tài khoá 1973 : hai tỷ mốt (2,1 tỷ)
-Tài khoá 1974 : một tỷ tư (1,4 tỷ)
-Tài khoá 1975 : bẩy trăm triệu (0,7 tỷ).
Nghĩa là ngày càng giảm thiểu.
Và đưa đến hậu quả
là : Ngân khoản 700 triệu chỉ cung cấp được phân nửa nhu cầu tối
thiểu của quân đội VNCH, trong năm 1975 hoạt động quân sự của Việt cộng gia tăng 70% hơn năm trước. Sau khi trừ đi 46 triệu cho USDAO, số tiền còn lại được chia ra như sau:
- Không quân: Cần 414 triệu; nhận 183 triệu – 44% ngân khoản yêu cầu.
- Lục quân: Cần 841 triệu; nhận 458 triệu - 54% ngân khoản yêu cầu.
Như vậy, từ số tiền 1 tỉ 283 triệu của ngân sách quân
viện năm 1975, VNCH chỉ được 654 triệu – chỉ bằng 51% ngân khoản cần
thiết".
Thực trạng bi thảm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được ghi nhận vào tháng 02/1975 như sau:
Ðạn - Số ngày tồn kho
Ðạn M-16 (5.56 ly) - 31
Ðạn phóng lựu 40 ly - 29
Ðạn súng cối 60 ly - 27
Ðạn súng cối 81 ly - 30
Ðạn pháo 105 ly - 34
Ðạn pháo 155 ly - 31
Lựu đạn - 25
- Trong khi đó, về phía
Việt cộng nhận được số lượng viện trợ quân sự trong giai đoạn
1973-1975: Tổng số 724,512 tấn gồm 75,267 tấn hàng hậu cần , 649,246
tấn vũ khí trang bị kỹ thuật, trong đó Liên Xô: 65,601 tấn, Trung Quốc
620,354 tấn, các nước xã hội chủ nghĩa khác : 38,557 tấn.
- Lê Đức Thọ của miền
Bắc, người thương thuyết và ký hiệp định Paris với Kissinger chối bỏ
phần còn lại của giải Hòa bình Nobel, ông và đảng cộng sản Việt Nam
đang chuẩn bị ráo riết cuộc xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.
- Sau khi ký Hiệp định
Paris, Hà Nội cho khởi công xây tuyến đường xa lộ Ðông Trường Sơn hay
hành lang 613, song song với đường mòn Hồ Chí Minh nhưng nằm trong địa
phận Việt Nam Cộng Hoà từ Ðồng Hới cho tới Lộc Ninh, đến đầu năm 1975
thì công trình hoàn thành dài 1,200 km. Dọc theo Ðông Trường Sơn là hệ
thống dẫn dầu từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh. Bắc Việt huy
động hàng nghìn xe máy ủi, hàng vạn bộ đội, công nhân, thanh niên xung
phong, dân công .. ngày đêm phá núi san đèo, xây cống, lắp đường, dựng
cầu.. đường rộng 8 m.. xe vận tải cỡ lớn chạy hai chiều được, ngày đêm
chở hàng trăm nghìn tấn đạn dược quân nhu cho chiến trường. Họ đã xử
dụng 16 ngàn xe vận tải để chuyên chở binh khí, kỹ thuật, đạn dược,
lương thực… chuẩn bị cho chiến trường miền Nam trong hai năm 1973 và
1974. Chiều dài toàn bộ hệ thống chiến lược Trường Sơn tới 1975 là 16
ngàn km gồm 5 hệ thống đường trục dài 5,500 km, 21 đường trục ngang
dài 1,020 km, một đường hệ thống dẫn dầu dài 5,000 km.
- Theo một cựu trung tá
không quân Việt Nam Cộng Hoà cho biết đường xâm nhập của Việt cộng hiện
rõ trên bản đồ nhưng miền Nam không đủ lực lượng để ngăn chặn, đồng
thời Hoa Kỳ ngăn cản không cho không quân VNCH đánh phá, họ đe doạ cắt
viện trợ nếu không nghe theo. Một số nhà nghiên cứu, giới chức quân sự
cho rằng viện trợ quân sự của Nga, Trung Cộng cho miền Bắc năm 1975 gấp
3 hoặc 4 lần năm 1972. Sự thực thì không phải như vậy, số lượng vũ khí
đạn dược năm 1975 của CSBV nhiều gấp bội lần năm 1972 vì họ mang vào
Nam được nhiều hơn, khối lượng hàng viện trợ vũ khí đạn dược như ta đã
thấy trong hai giai đoạn này (1972 và 1975) không thay đổi mấy, coi như tương đương .
Quân Bắc xâm Việt cộng mở
chiến dịch tấn công Phước Long làm bàn đạp tấn công thủ đô Sài Gòn.
Họ mở hai mũi tấn công vào mặt đông bắc thành phố Tây Ninh với trung
đoàn 205; đồng thời tấn công pháo kích đơn vị Địa Phương Quân trấn
thủ trên núi Bà Đen; 3 trung đoàn 33, 812, 274 thuộc sư đoàn 6 vc tấn
công hai quận Hoài Đức và Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Tuy. Đây là các
trận đánh hỏa mù để cầm chân những lực lượng tinh nhuệ của quân đoàn
III Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Ngày 26/12/1974, quân
Việt cộng tấn công thị xã Phước Long và phi trường Sông Bé. Đồn trú nơi
đây có Tiểu đoàn 2 trung đoàn 7 Sư đoàn 5 Bộ binh, ba đại đội Thám
báo của các sư đoàn 5, 18, 25, cùng những đơn vị Địa Phương Quân,
Nghĩa Quân quân số vào khoảng 6000 người. Trong khi chiến trường đang
căng thẳng, các đơn vị trú phòng tại đây được tăng viện thêm đại đội 1
và 4 thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Hơn sáu ngàn binh sĩ Việt Nam
Cộng Hòa phải chống lại một lực lượng tấn công đông gấp ba lần. Các
đơn vị Việt cộng tấn công gồm hai sư đoàn 3 và 7, hai trung đoàn biệt
lập, hai trung đoàn pháo và phòng không cùng với một trung đoàn
chiến xa, tất cả đặt dưới quyền điều khiển của quân đoàn IV Việt cộng.
Quân lực VNCH tăng cường
tối đa các phi vụ yểm trợ cho quân bạn, nhưng sức người có hạn. Nên
ngày 9/1/1975, Phước Long thất thủ.
Quân Bắc xâm Việt cộng mở
chiến dịch Tây nguyên với mục đích cắt đôi Việt Nam Cộng Hòa. Ngày
10/3/1975, Việt cộng nổ súng tấn công Ban Mê Thuột với các sư đoàn 320
Điện biên và F10. Trách nhiệm phòng thủ có Đại tá Nguyễn Trọng Luật,
tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng BMT và Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lịnh
phó sư đoàn 23 bộ binh kiêm Tư lịnh mặt trận Ban Mê Thuột. Quân trú
phòng tại chỗ là Trung đoàn 53 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh dưới quyền
điều khiển của Trung tá Võ Ân. Cuộc giao tranh đã xảy ra ác liệt ngay
tại mặt trận phi trường Phụng Dực. Ngày 11/3/1975, quân Việt cộng
được tăng cường quân số lên gấp 10 lần và đó là một ngày giao tranh
đẫm máu nhất tại mặt trận phi trường Phụng Dực. Hầm chỉ huy của Đại
tá Vũ Thế Quang bị Không quân ném lầm hai trái bom, nên đã mất liên
lạc với bộ tư lịnh quân đoàn II từ phút đó.
Ngày 12/3/1975, Thiếu tướng Phạm
Văn Phú Tư lịnh quân đoàn II quyết định tăng cường binh sĩ để tái
chiếm Ban-Mê-Thuột. Trung đoàn 44 và 45 thuộc Sư đoàn 23 bộ binh đã
được một lực lượng trực thăng tới 46 chiếc HUIB và Chinook không vận
vào Phước An. Đây là cuộc hành quân trực thăng vận lớn nhất kể từ sau
Hiệp định Paris được ký kết vào năm 1973. Ngoài TĐ45BB, còn có sự
tăng cường của Liên đoàn 21 Biệt Động Quân. Cuộc tăng viện đang diễn ra
tốt đẹp, trong đó tinh thần binh sĩ các cấp lên rất cao, thì đột
ngột có lịnh lui binh sau cuộc họp ngày 14/03/1975 giữa Thiếu tướng
Phạm Văn Phú cùng Tổng thống Nguyễn văn Thiệu, Đại tướng Trần Thiện
Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Đặng Văn Quang.
Hậu quả cuộc lui binh
trên tỉnh lộ 7b này là Quân đoàn II đã bị xóa sổ, và giải tán. Tướng
Phạm Văn Phú bị cách chức rồi tự sát để giữ tròn khí tiết của một vị
tướng lãnh vào ngày 30/4/1975.
Ngày 19 tháng 3/1975,
Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư lệnh QĐ I – QK I về Sài Gòn để gặp Tổng
thống Thiệu trình bày kế hoạch rút quân của quân đoàn. Cuộc họp bắt
đầu 11 giờ, cùng với sự hiện diện của Phó Tổng thống Trần Văn Hương.
Theo ghi nhận của Tướng Viên, kế hoạch của Trung tướng Trưởng rất chu
đáo và được tiến hành theo hai phương cách:
- Phương cách thứ nhất: Các lực lượng từ Huế và Chu Lai theo Quốc lộ 1 cùng một lúc rút về Đà Nẵng.
- Phương cách thứ hai:
Nếu địch cắt Quốc lộ 1 thì sẽ rút quân về ba nơi: Đà Nẵng, Huế và Chu
Lai. Tuy nhiên Huế và Chu Lai chỉ là nơi tập trung tạm thời để sau đó
các đơn vị được hải vận về Đà Nẵng. Đà Nẵng sẽ trở thành nơi cố thủ
của SĐ 1 BB, SĐ 2 BB, SĐ 3 BB, SĐ TQLC và 4 Liên đoàn BĐQ .
Ngoài các đơn vị kể trên
còn có Lữ đoàn 1 Nhảy Dù cũng được tăng phái cho Quân Đoàn I với
điều kiện không được sử dụng để tung vào chiến trận.
Ngày 20 tháng 3/1975,
khi vừa đặt chân xuống Đà Nẵng, Trung tướng Trưởng nhận được một công
điện "mật khẩn" của Tổng thống Thiệu do Bộ Tổng Tham Mưu chuyển. Tổng
thống Thiệu khuyên Tướng Trưởng tùy nghi ứng phó và làm sao chỉ giữ
một mình Đà Nẵng mà thôi vì không thể nào phòng thủ nổi ba thành phố
Huế, Đà Nẵng và Chu Lai cùng một lúc được. Đồng thời Lữ đoàn 1 ND
được lệnh lên đường về Sài Gòn ngay khuya đêm đó.
Lại một lần nữa, lịnh rút
quân đột ngột của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã khiến các đơn vị
thiện chiến nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng như của Quân khu I
như Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư đoàn 1 bộ binh, các Liên đoàn
Biệt Động Quân, Địa Phương Quân - Nghĩa Quân, Thiết Kỵ, Pháo binh
v.v...bị thiệt hại trầm trọng về nhân sự cũng như khí cụ, đưa đến
tình trạng bất khiển dụng như Quân đoàn II.
Ngày 08/4/1975, Thiếu
tướng Nguyễn Văn Hiếu Tư lịnh phó Quân đoàn III bị ám sát ngay tại
văn phòng tư lịnh phó. Và đây cũng là ngày mặt trận Xuân Lộc - Long
Khánh bùng nổ và kéo dài đến 20/4/1975. Ngày 10/04/1975, Tướng Nguyễn
Văn Hiếu được tổng thống VNCH truy thăng Trung tướng. Cố Trung tướng
Nguyễn Văn Hiếu bị ám sát khi đang chuẩn bị kế hoạch phản công chống
đoàn quân Bắc xâm Việt cộng bằng kỵ binh. Cái chết đột ngột không
sớm không muộn khi kế hoạch phản công vừa hình thành hay vì một
nguyên do nào khác liên quan đến việc điều tra tham nhũng trong quân
đội?
Hơn nữa cái chết đột ngột
của Tướng Nguyễn Văn Hiếu làm chúng ta liên tưởng đến việc tử nạn
trực thăng của Đại tướng Đỗ Cao Trí ngày 23/02/1971, khi ông từ vùng
III đáp trực thăng đi vùng I nhậm chức Tư lịnh quân đoàn hầu cứu vãn
cuộc hành quân Lam Sơn 719 đang bị sa lầy.
Hai cái chết vào hai thời
điểm nêu trên của hai vị Tướng lãnh tài ba lỗi lạc đã khiến nhiều
người trong chúng ta phải thắc mắc: Có phải thế lực nào đó trong bóng
tối nhất quyết không muốn Đại tướng Đỗ Cao Trí và Trung tướng Nguyễn
Văn Hiếu trở thành cứu tinh của Quân lực và quốc gia Việt Nam Cộng
Hòa? Và từ đó đã ra tay hạ sát hai vị Tướng này. Quả tình sự ra đi của
hai vị chiến Tướng vừa nêu là một mất mát lớn lao cho tộc Việt.
Trở lại với tình hình
chiến sự khi Xuân Lộc là căn cứ quân sự của SĐ18BB do Thiếu tướng Lê
Minh Đảo làm tư lịnh bao gồm: Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh và các đơn
vị Kỷ Thuật thuộc mọi Binh chủng của QLVNCH. Quân đoàn IV Việt cộng
gồm các sư đoàn 6, 7 và 341. Ngoài ra còn tăng cường thêm sư đoàn 325
và Liên đoàn 75 Pháo binh đủ loại.
Trên đường tiến quân về
Sài Gòn, quân vc bắt buộc phải đi ngang Xuân Lộc - Long Khánh. Cho nên
trận chiến đã diễn ra rất ác liệt giữa quân trú phòng và quân vc
ngay từ những giờ phút đầu tiên.
Ngày 12/04/1975 chiến trường Xuân Lộc được tăng cường Lữ đoàn 1 Nhảy Dù của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh.
Mũi tiến công để chiếm
Sài Gòn của quân vc đã bị khựng lại nơi đây vì gặp phải sức kháng cự
mãnh liệt của tất cả các đơn vị trú phòng. Bộ tư lịnh hành quân của vc
bắt buộc phải thay đổi tư lịnh chiến trường, họ đưa Tướng Trần Văn
Trà vào thay Tướng Hoàng Cầm và đưa thêm quân tăng viện.
Quân vc dùng "chiến thuật
biển người", "tiền pháo hậu xung" liên tục tấn công và cuối cùng đã
tràn ngập tuyến phòng thủ của Chiến đoàn 52 Bộ binh của Đại tá Ngô Kỳ
Dũng ngày 15/04/1975. Để chận đứng đà tiến của vc tràn về Sài Gòn và
Biên Hòa, Thiếu tướng Lê Minh Đảo đã xin xử dụng bom BLU.82 (Daisy
Cutter), một loại bom nổ đặc biệt có sức công phá cực mạnh trong một
phạm vi rộng lớn.
Ngày 16/4/75 Lực Lượng
Xung Kích Quân Ðoàn III - Lữ đoàn 3 Kỵ Binh do Chuẩn Tướng Trần Quang
Khôi chỉ huy đã giao tranh dữ dội với vc tại Ngã Ba Dầu Giây.
Qua 12 ngày đêm ác chiến với quân
Bắc xâm Việt cộng, Xuân Lộc - Long Khánh vẫn vững vàng trước cơn bảo
lửa. Quân đoàn IV vc tham chiến tại mặt trận đã bị thiệt hại nặng nề
về sinh mạng, pháo binh, xe tăng, v.v… nên Bộ tư lịnh chiến dịch hồ
chí minh đã vội vàng thay đổi kế hoạch tiến chiếm Sài Gòn.
Ngày 20/04/1975, Sư đoàn
18 Bộ binh (QLVNCH) cũng như các đơn vị được lịnh lui binh. Cuộc lui
binh đã diễn ra tốt đẹp, với tổn thất của các đơn vị bạn rất giới
hạn. Cuộc lui binh này nhằm phòng thủ vòng đai an ninh gần Sài Gòn
cũng như phi trường Biên Hòa vì quân vc sau khi không chiếm được Xuân
Lộc nên đã rẽ sang con đường khác và theo Quốc lộ 15 tiến vào thủ đô
Sài Gòn qua Biên Hòa. Tinh thần của các đơn vị QLVNCH tham chiến còn
vững vàng, quân trang, đạn dược còn đầy đủ chứ không thiếu thốn hay
bị mất tinh thần mà phải lui binh.
Cùng ngày, Ðại Sứ Mỹ
Graham Martin gặp TT Thiệu và yêu cầu ông Thiệu nên từ chức để sớm có
thương thuyết với CS bằng chính phủ mới của Dương Văn Minh. Chiều ngày
hôm đó thì Phan Rang lọt vào tay Cộng quân và Cộng quân cũng cố tình
xua cho dân chúng di tản để làm rối loạn tinh thần dân chúng ở
Saigòn.
Ngày 20/04/1975, cũng là
ngày phòng tuyến xa của quân đoàn III dưới quyền chỉ huy của Trung
tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị thất thủ. Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và
Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang Tư lịnh sư đoàn 6 Không quân bị quân việt
cộng bắt trên đường triệt thoái.
Trước khi bị ám sát chết
ngày 08/04/1975, Trung tướng Nguyễn Văn Hiếu được Bộ tổng tham mưu
Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đề cử trách nhiệm phòng thủ Phan Rang,
nhưng không hiểu vì lý do gì quyết định này lại thay đổi. Đặt giả
thuyết, nếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu được trao trách nhiệm phòng thủ
Phan Rang một cách thật sự, có lẽ tình hình chiến sự sẽ có nhiều thay
đổi thuận lợi hơn cho QLVNCH và đất nước Việt Nam.
Ngày 21/04/1975, Tổng
thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu từ chức và trao quyền lại
cho Phó tổng thống Trần Văn Hương. Mặc dù với số tuổi 71, phó tổng
thống Trần Văn Hương đã can đảm đứng ra gánh lấy trọng trách điều
hành quốc gia trong cơn bảo lửa.
Từ ngày 1/04/1975 đến
ngày 30/04/1975, quân đoàn IV của Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam vẫn còn
nguyên vẹn và trong tinh thần sẳn sàng chiến đấu.
Tình hình quân sự ngày 28/04/1975 khi Đại tướng Dương Văn Minh nhậm chức Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa như sau:
- Tại các vùng trong và
ngoài của thủ đô Sài Gòn, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn khoảng trên
dưới khoảng 60 ngàn binh sĩ đó là chưa kể còn khoảng trên dưới gần 70
ngàn binh sĩ thuộc quân đoàn IV của Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, để
đối đầu lại với khoảng 280 ngàn quân Bắc xâm Việt cộng.
- Lực lượng quân sự của Quân đoàn IV do Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lịnh gồm có:
18 Liên đoàn Biệt Động
Quân; 5 Thiết đoàn và 17 Chi đoàn Kỵ binh với 493 chiến xa đủ loại; Sư
đoàn 4 Không quân đóng ở phi trường Trà Nóc, Cần Thơ với khoảng 100
phi cơ đủ loại; Về bộ binh có các Sư đoàn 7, 9 và 21; Hải quân có 4
Duyên đoàn và 9 Giang đoàn với 600 tàu đủ loại.
Tương quan lực lượng giữa
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và quân Bắc xâm Việt cộng được ghi nhận
như sau trong lãnh thổ quân đoàn III:
- Phòng tuyến Bình Dương
về hướng Bắc có Sư đoàn 5 Bộ binh đóng ở Lai Khê, bảo vệ Quốc lộ 13
và đối thủ là Sư đoàn 1 Việt cộng.
- Phòng tuyến Biên Hòa về
hướng Đông có Sư đoàn 18 Bộ binh của Thiếu tướng Lê Minh Đảo sau khi
rút khỏi Xuân Lộc về trấn thủ Long Bình, Biên Hòa; Lực Lượng Xung
Kích Quân Ðoàn III của Chuẩn tướng Trần Quang Khôi chỉ được lịnh trấn
tại Dầu Giây-Hưng Lộc, sau đó là phòng thủ Biên Hòa (chứ không phải
Sài Gòn); Lữ đoàn 468 Thủy quân Lục Chiến của Trung Tá Huỳnh Văn Lượm
phụ trách đối đầu với các Sư đoàn 2, 304, 325 quân Việt cộng.
- Phòng tuyến Vũng Tàu do Lữ đoàn 1 Nhảy Dù của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh phụ trách đối đầu với Sư đoàn 3 sao vàng Việt cộng.
- Phòng tuyến Long An
trấn giữ bởi Sư đoàn 22 Bộ binh đối đầu với các Sư đoàn 8, 24 và 6, trừ
bị là các Sư đoàn 7, 9 và 3 Việt cộng; Liên đoàn 6 và 8 Biệt Động
Quân đối đầu với các Sư đoàn 8, 5, 262 Việt cộng.
- Phòng tuyến Củ Chi do
Sư đoàn 25 Bộ binh của Chuẩn tướng Lý Tòng Bá trấn đóng ở Củ Chi, nơi
đây Sư đoàn đã đối đầu với Sư đoàn 50 Việt cộng; Liên đoàn 9 Biệt
Động Quân đối đầu với Sư đoàn 232, 27, 71 của Việt cộng.
Ngoài ra, quân đoàn III
VNCH còn có 14 Tiểu đoàn Pháo binh với 376 đại pháo đủ loại; 7 Thiết
đoàn Kỵ binh với gần 700 chiến xa đủ loại; Sư đoàn 3 Không quân đóng ở
Biên Hòa và Sư đoàn 5 Không quân đóng ở Sài Gòn; Hải quân có 4 Hải
đoàn Duyên phòng và 6 Giang đoàn với 700 tàu đủ loại; Các đơn vị Địa
Phương Quân Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ cũng như Cảnh Sát Quốc Gia và
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.
Tuy nhiên qua cách bố
phòng, chúng ta có thể nhận thấy một điều, hầu hết các đơn vị lớn và
thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chỉ đóng ở vòng đai xa thủ
đô Sài Gòn, không có một đơn vị tinh nhuệ nào được lịnh trực tiếp bảo
vệ thành phố đông dân này (nếu chúng tôi không nhầm). Sài Gòn đã bị bỏ
ngỏ từ trước, nhất là khi phòng tuyến Củ Chi của Sư đoàn 25 Bộ binh
bị xuyên thủng, quân Bắc xâm Việt cộng đã thâm nhập Sài Gòn một cách
dễ dàng.
- Về phía quân Bắc xâm
Việt cộng bao gồm các quân đoàn I, II, III, IV tổng cộng 15 sư đoàn bộ
binh, ngoài ra còn có 5 Lữ đoàn bộ binh biệt lập, 4 Trung đoàn chiến
xa, 6 trung đoàn đặc công.
Kể từ khi quân Bắc xâm Việt cộng
phát động cuộc tổng tấn công chiếm thủ đô Sài Gòn ngày 26/04/1975, thì
Sư đoàn 25 Bộ binh có căn cứ tại Củ Chi bị thất thủ khi quân đoàn
III vc gồm các Sư đoàn 320, 316, 70, 968 tấn công dồn dập, Chuẩn
tướng Lý Tòng Bá một Tướng lãnh tài ba lỗi lạc rốt cuộc phải thúc thủ
và bị bắt tại mặt trận đêm 29 rạng sáng 30/4/1975 do quyết định sai
lầm từ vị Tư lịnh quân đoàn III.
Sư Ðoàn 5 Bộ Binh do
Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ làm tư lịnh đóng ở Lai Khê, tình hình không có
gì đặc biệt. Nhưng sáng hôm sau khoảng 10 giờ 30, khi nghe Dương Văn
Minh tuyên bố đầu hàng cộng sản, Tướng Lê Nguyên Vỹ cho kéo cờ
trắng. Sau đó, ông nghiêm trang chào quốc kỳ rồi trở về văn phòng tự
sát. Tướng Lê Nguyên Vỹ đền nợ nước đúng ngày 19 tháng 3 năm Ất Mão
(Âm Lịch), tức ngày 30 tháng 4 năm 1975 (Dương Lịch).
08 giờ sáng ngày 30/4/75,
liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu hoàn toàn bị cắt đứt, Chuẩn Tướng Trần
Quang Khôi quyết định họp các chỉ huy trưởng để tham khảo ý kiến.
Tất cả cùng quyết định kéo quân về giải vây thủ đô. Đoàn quân giải vây
thủ đô gồm:
Lữ Ðoàn 2 Nhảy Dù do Trung Tá Nguyễn Lô chỉ huy tiến theo Ðường Sắt phía phải về Saigòn.
Lữ Ðoàn 468 Thủy Quân Lục Chiến của Trung Tá Huỳnh Văn Lượm tiến theo phía trái Ðường Sắt
Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh và Liên Ðoàn 33 Biệt Ðộng Quân tiến theo Xa lộ Biên Hòa về Saigòn.
Chiến Ðoàn 315 của Trung Tá Ðỗ Ðức Thảo tiến về Cầu Bình Triệu.
Chiến Ðoàn 322 của Trung Tá Nguyễn Văn Liên tiến theo sau Chiến Ðoàn 315.
Chiến Ðoàn 318 của Trung Tá Nguyễn Ðức Dương đi phía sau các đơn vị để yểm trợ.
Tuy nhiên khi các chiến
xa của Lữ đoàn 3 Kỵ Binh tiến tới gần nhà thờ Fatima, Bình Triệu, thì
Tướng Trần Quang Khôi nghe được lịnh buông súng đầu hàng của Tổng
thống Dương Văn Minh. Đó là ngày 30 tháng 4 năm 1975 lúc 10 giờ 25
phút sáng.
Khi lịnh đầu hàng ban
hành, vì không chấp nhận đầu hàng kẻ thù, Trung tá Nguyễn Văn Long
(Cảnh Sát Quốc Gia) đã tự sát bằng súng lục lúc 11giờ 30 dưới tượng
đài Thủy Quân Lục Chiến phía trước tòa nhà Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa
trong ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Tư lịnh phó quân đoàn IV tự sát vào lúc 20 giờ 45 phút tối ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Thiếu tướng Phạm Văn Phú
nguyên Tư lịnh quân đoàn II quân khu II tự tử bằng thuốc độc ngày
29/04/1975 và chết vào trưa ngày 30/04/1975 khi nghe tin Dương Văn
Minh đầu hàng Việt cộng.
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa
Nam tư lịnh Quân Ðoàn IV Quân khu IV, đã quyết định không đầu hàng
Việt cộng và tuẫn tiết vào sáng ngày 01 tháng 5 để bảo vệ khí tiết
của một vị tướng lãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông tự sát khi
mới 48 tuổi.
Chuẩn tướng Trần Văn Hai Tư lịnh Sư đoàn 7 Bộ binh tự sát bằng thuốc độc chiều ngày 30/4/1975.
Ðại tá Hồ Ngọc Cẩn Tỉnh
trưởng tỉnh Chương Thiện, chiến đấu đến cùng và bị bắt lúc 11 giờ đêm
ngày 1/5/75 khi bộ chỉ huy Tiểu khu thất thủ.
Và còn nhiều, rất nhiều
gương trung liệt khác của quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã hy
sinh trong ngày 30/4/1975 vì không chấp nhận đầu hàng quân Bắc xâm
Việt cộng.
Một trang sử đã lật qua !
- Sau khi chiếm Sài Gòn
quân Bắc xâm Việt cộng đã cướp 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa do
phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo trao tay. Rồi đổ cho Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu đã đem đi ngoại quốc.
- Ngày 10/05/1975, quân
Bắc xâm Việt cộng tập trung Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong
chính sách "tập trung cải tạo" thực tế là đi tù. Hàng trăm ngàn
người đã bị đày ải trong các trại tù từ Nam chí Bắc; trong số đó có
những người đã bị chết trong các trại tù do bịnh tật, do sự trả thù,
do sự vượt thoát không thành và bị hạ sát. Con số có thể lên đến hàng
ngàn, hàng chục ngàn người bị chết trong các trại tù trá hình từ Nam
chí Bắc.
- Ngày 14/08/1975 Đại tá Hồ Ngọc Cẩn tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện bị Việt cộng hành quyết.
- Từ ngày 02/09 đến
27/12/1975, Việt cộng hành quyết 7 sĩ quan và viên chức hành chánh của
Việt Nam Cộng Hòa ở trại tù Suối Máu, tỉnh Đồng Nai.
- Ngày 18/09/1975 đổi tiền lần thứ nhất.
- Ngày 10/11/1975 chiến dịch đánh tư sản mại bản lần đầu do Nguyễn Hữu Thọ cầm đầu.
- Ngày 22/12/1975 Việt
cộng tiến hành thống nhất hai miền Nam Bắc và chính thức khai tử Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam (một bình phong, con cờ trong âm mưu thôn tính
miền Nam) bằng cách chỉ xử dụng lá cờ đảng sao vàng làm "quốc kỳ"
cho nước Việt Nam thống nhất.
- Từ 02/01 đến
13/08/1976, quân chiếm đóng Việt cộng xử tử hình 17 sĩ quan và viên
chức hành chánh VNCH ở trại tù Suối Máu, tỉnh Đồng Nai.
- Ngày 12/02/1976, Việt
cộng tấn công nhà thờ Vinh Sơn ở Sài Gòn và giết 3 vị linh mục. Một số
thành viên của tổ chức Liên Tôn bị bắt, trong đó có Linh mục Quang
Minh.
- Ngày 12/03/1976, Trần
Văn Phác, bộ trưởng thông tin Việt cộng ra lịnh tịch thu, tiêu hủy
"sách báo đồi trụy, phản động" ở miền Nam Việt Nam. Đây là lần thứ ba
đạo quân Bắc xâm diệt chủng văn hóa của tộc Việt.
- Ngày 05/06/1976, Trần
Trọng Tân, trưởng ban khoa giáo thành ủy Sài Gòn ra thông báo tổ chức
các khóa học chánh trị cho giới văn nghệ sĩ miền Nam, và sau đó là
những đợt truy lùng bắt bớ văn nghệ sĩ trên toàn miền Nam.
- Từ khi sài Gòn bị thất
thủ, hàng ngàn, hàng vạn người dân Việt đã liều mạng bỏ xứ ra đi. Họ
dùng đủ mọi phương tiện, bằng tàu bè, bằng đường bộ để vượt thoát ra
khỏi chế độ Cộng sản Việt Nam. Do đó đã đưa đến cao trào vượt biển
vào năm 1979. Có những người may mắn đến được bến bờ tự do, rồi được
định cư ở một nước thứ ba; nhưng có những người vượt biển khác đã để
xác thân lại dưới lòng biển sâu; và có những người phụ nữ Việt Nam bị
hải tặc Thái Lan cưỡng bức, rồi hoặc giết, hoặc bắt đi đem bán cho
các nhà "tiếp khách" ở Vọng Các. Con số nạn nhân vượt biển tìm tự do
lên đến khoảng 1 triệu 500 ngàn người. Và con số người đến được bến
bờ tự do, không dưới 3 triệu người, định cư rải rác trên thế giới từ
Mỹ sang Âu.
- Ngày 26/12/1978, quân Bắc xâm Việt cộng xua 200 ngàn quân xâm lăng Cao Miên.
- Ngày 17/02/1979, Tầu cộng xua hơn 500 ngàn quân tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam.
Còn tiếp...
