Thiên Niên Sử Thăng-Long ThànhNguồn: http://www.vnmilitaryhistory.info/

Mục Lục:
Tựa
Tựa
Chương I/ Dẫn Nhập:
Chương II/ Tư tưởng tộc Việt thời tối cổ:
Chương III/ Nếp Suy Tư Bình Dân:
Chương IV/ Nếp Suy Tư Bác Học:
Chương V/ Nếp Suy Tư Bác Học - Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà Năm 981:
Chương VI/ Nếp Suy Tư Bác Học - Bài thơ Vận Nước và Bài Thơ Thần:
Chương VII/ Tư Tưởng Bác Học - Sự Khởi Đầu Của Tam Giáo Đồng Nguyên :
Chương VIII/ Tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 15 sau khi thành rồng bay lên được hình thành:
Chương IX/ Tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ 15 đến thế kỷ thứ 17 sau khi thành rồng bay lên được hình thành:
Chương X/ Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam:
Chương XI/ Từ Ngàn Năm Thăng Long 2010 Đến Thỏa Hiệp Việt Trung 2011:
Chương XII/ Hướng Đến Một Nền Đa Giáo Đồng Nguyên, Một Xã Hội Phân Nhiệm:
Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc biên khảo
Chương X/ Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam:
Một sự kiện khác liên quan đến
thành Thăng-Long không thể không đề cập đó là những nhân vật lỗi lạc về
mặt quân sự trong 1000 năm qua của nơi này. Những nhân vật lỗi lạc,
kiệt xuất về mặt quân sự là những bậc Thiên Tài Quân Sự của đất nước
hay của Việt Nam.
Thiên tài quân sự hay Thiên tài quân sự Việt Nam có hai ý nghĩa khác nhau.
1/ Thiên tài quân sự là người có khả năng điều binh khiển tướng trời cho của thế giới.
2/ Thiên tài quân sự Việt Nam là người có khả năng điều binh khiển tướng trời cho của Việt Nam cũng như của thế giới.
Thiên Tài Quân Sự và một danh
từ khác đó là Kỳ Tài Quân Sự nhằm nói đến vị Tướng có tài dụng binh như
thần, có mưu lược sâu xa, có trí tuệ phán đoán tình hình đúng thời
đúng lúc hơn nữa còn có tình thương (tức NHÂN ĐẠO) với binh lính trong
quân ngủ. Vị Tướng đó biết chăm sóc đời sống cho lính, không xem binh
lính dưới quyền là nấc thang để bản thân leo lên địa vị tối cao, mà xem
họ như những người thân trong gia đình, biết quý trọng xương máu binh
lính, cũng như tìm cách bảo vệ tối đa sinh mạng binh sĩ mà vẫn tạo nên
những chiến thắng lẫy lừng để lại tiếng thơm cho mai sau. Hơn nữa người
cầm quân ngoài mặt trận phải là người có tinh thần dân tộc cao độ (nội
dung chi tiết đã trình bày trong phần Ý Thức Thần Thoại Và Triết Học),
chỉ một lòng vì tổ quốc và dân tộc chiến đấu chứ không vì bất kỳ tổ
chức, đảng phái hay cá nhân nào.
Có được Đạo của người làm
tướng, cũng như khả năng điều quân trời cho mới thực sự là Thiên Tài
Quân Sự thật sự và cũng là Thiên tài Quân Sự Việt Nam.
- Theo định nghĩa của Tự Điển Hán Việt của Đào Duy Anh trang 160 và 468 là,
Thiên tài: tài năng trời sinh
Quân sự: việc binh
- Việt Nam Tự Điển quyển hạ (trang 1565 và 1200) của các tác giả Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ cùng một nhóm văn hữu soạn ghi:
Thiên tài: Tài năng trời cho, không phải học hỏi hay tập-rèn nhiều mà vẫn giỏi hơn người: Đó là một thiên-tài của đất nước.
Quân sự: Việc quân, việc đánh giặc.
Cho nên mới có câu
Nhất tướng công thành vạn cốt khô
Không cần nhiều cốt khô, nhưng vẫn công được thành, ấy chính là Thiên Tài Quân Sự.

Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm thành Thăng-Long được thành
lập, cũng như ý nghĩa đặc thù ở nơi đã từng là kinh đô của nước Đại
Việt, Hội Sử-Học Việt-Nam tại Âu-Châu (danh xưng cũ là Nhóm
Nghiên Cứu Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử) tôn xưng Tứ
Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam, nghĩa là bốn bậc tướng lãnh lớn của
Việt Nam có tài điều binh khiển tướng của trời cho và ngàn năm trước
ngàn năm sau ghi nhận 4 vị nêu tiếp theo đây là nổi bật nhất:
1/ Đức Vua Trần Nhân Tông
Vua Trần Thánh Tông truyền ngôi cho thái tử
Khâm. Thái tử lên ngôi xưng là Hiếu Hoàng, hiệu là Pháp Thiên Ngự Cực
Anh Liệt Vũ Thánh Minh Nhân Hoàng Ðế (tức là Nhân Tông), chính thức trị
vì đất nước Ðại Việt năm 1279, lấy niên hiệu là Thiệu Bảo Nguyên Niên
cũng gọi là Trùng Hưng. Vua Nhân Tông tôn vua cha là Quang Nghiêu Từ
Hiếu Thái Thượng Hoàng đế và tôn Thiên Cảm Hoàng Hậu là Nguyên Thánh
Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu. Ngài là người hâm mộ đạo Phật ngay từ lúc
thiếu thời, ý chí mong muốn xuất gia đầu Phật mà thôi. Tuy nhiên, giữa
lúc đất nước Ðại Việt đang trong cơn thử thách trước mưu đồ xâm lăng
của nhà Nguyên ngày càng rõ rệt, thì ngài đã vận dụng lòng từ bi rộng
lớn để cưu mang xã tắc và dân tộc.
Sau khi tiêu diệt nhà Tống vào năm 1279 (quân
Tống bị đánh úp ở Nhai Sơn phía Nam huyện Tân Hội tỉnh Quảng Ðông Trung
Quốc), kết thúc bằng sự kiện tả thừa tướng Lục Tú Phu cõng vua Tống
nhảy xuống biển tự tử vào mùa Xuân cùng hằng vạn quân dân nhà Tống khác
(cũng là năm vua Nhân Tông lên ngôi), Hốt Tất Liệt, Nguyên Thái Tổ đã
chuẩn bị binh sĩ cũng như cho đóng thêm chiến thuyền để xâm lăng nước
ta. Ðể tránh sự thất bại như lần trước vào năm 1258, khi Thái tổ Trần
Thái Tông đánh bại, quân Nguyên dự trù mở ba mặt trận làm thế gọng kềm
trong dã tâm đè bẹp nước Ðại Việt của chúng ta. Chúng dự định đem quân
đánh chiếm Chiêm Thành làm gọng kềm phía Nam, phối hợp với hai hướng
tiến quân phía Ðông Bắc và Tây Bắc, từ dưới đánh lên và phía trên cho
quân tràn xuống với khí thế vô cùng hung liệt.
I. Quân Nguyên tấn công, quân đội Đại Việt rút lui:

Bản đồ quân sự việt nam, quân nhà Trần giao tranh với quân Nguyên năm 1285
Mùa thu tháng 8 năm 1283, viên
tướng trấn thủ biên cương Lạng Châu (Lạng Sơn) là Lương Uất cấp báo về
triều đình, Hữu thừa tướng nhà Nguyên là Toa Đô (Sôgatu) đem 5000 quân
mượn đường nước ta sang đánh Chiêm Thành.
Tháng 10, vua Trần Nhân Tông tổ
chức một hội nghị tại bến đò Bình Than, vũng Trần Xá (chỗ gặp nhau của
hai con sông Thái Bình và Kinh Thầy. Nơi nầy về sau vẫn còn xã gọi là
Trần Xá) ở địa phận xã Trần Xá, huyện Chí Linh. Hội nghị đã quy tụ hầu
hết các vương thân quốc thích và cũng là các hàng lãnh đạo quân sự, mục
đích tổ chức nhằm bàn kế chống giặc ngoại xâm cũng như thắt chặt thêm
tinh thần đoàn kết chiến đấu của toàn thể triều đình chúng ta. Tại đây
ngoài việc bàn kế chống giặc, vua Nhân Tông đã phục chức Trần Khánh Dư
làm Phó đô tướng quân, một phẩm hàm đã bị tước đi khi ông phạm lỗi và
phải lui về làm nghề bán than ở Chí Linh (xưa là đất Bàng Châu, cũng
gọi là Bàng Hà, khi quân Minh chiếm nước ta chúng đổi thành huyện Chí
Linh, sau đó nhà Lê vẫn xử dụng tên cũ không thay đổi, này nay nó thuộc
tỉnh Hải Dương). Có một điểm khá nổi bật là, tất cả mọi người đến Bình
Than đều được tham dự hội nghị, duy có Hoài Vương Hầu Trần Quốc Toản vì
còn nhỏ tuổi đã không được tham dự. Ông đã bóp nát trái cam trong tay
lúc nào không hay để tỏ ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm. Khi lui
về, ông đã quy tụ người nhà thành một đạo quân hơn ngàn người, trang bị
khí giới, chiến thuyền, gương cao lá cờ «Phá Cường Ðịch Báo Hoàng Ân».
Khi lâm trận chống quân Mông-cổ, lúc nào ông cũng đi đầu diệt giặc,
khiến chúng phải e dè, không dám đối đầu mà phải lẫn tránh.
Vào tháng 10 cùng năm, Ðức
Hoàng Ðế sắc phong Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải làm Thượng tướng
Thái sư (vị quan đứng đầu triều đình, chỉ huy cả hai bộ phận văn và
võ), Ðinh Củng Viên làm Hàn lâm học sĩ phụng chỉ (vị quan đứng đầu viện
văn học trông coi việc soạn thảo các loại chế, cáo, chiếu chỉ của nhà
vua).
Tháng 7 mùa thu năm 1283, triều
đình Ðại Việt cử quan Trung phẩm Hoàng Ư Lệnh, nội thư gia Nguyễn
Chương đi sứ nhà Nguyên. Tháng 10 hai vị sứ giả của chúng ta trở về báo
rằng nhà Nguyên sai thái tử Trấn nam vương Thoát Hoan (Toghan) và bình
chương A Lạt (Ariq-Qaya) quy tụ 50 vạn quân ở hai tỉnh Hồ Quảng chuẩn
bị tràn vào xâm lăng nước ta.
Cho nên mùa Đông tháng 10 năm
1283, Vua Nhân Tông đã đích thân cùng với các vương hầu mở cuộc tập
trận lớn bao gồm cả thủy và lục quân. Ngài bổ dụng Hưng đạo vương Trần
Quốc Tuấn làm Quốc công, tiết chế thống lĩnh tất cả các sắc quân (tương
đương với Tổng tham mưu trưởng ngày nay), chọn trong hàng tướng lãnh
người nào có khả năng võ nghệ thì cho ra chỉ huy từng bộ phận. Trong
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục thì ghi rằng tháng 8, mùa thu
Đức Hoàng đế tổ chức duyệt binh cũng như hạ lệnh cho Hưng đạo vương điều
khiển các sắc quân của vương hầu.
Mùa thu tháng 8 năm 1284, đức
vua Trần Nhân Tông hạ lịnh cho Hưng Đạo Vương điều khiển các sắc quân
của vương hầu, mở cuộc duyệt binh lớn ở Đông-bộ-đầu (tức bến sông Hồng
phía trên cầu Long Biên gần dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay) rồi chia
quân trấn giữ Bình-Than cũng như các nơi trọng yếu. Hưng Đạo Vương Trần
Quốc Tuấn đã phổ biến bài Hịch Chiến Sĩ đến toàn quân sĩ Đại Việt.
Sự bố trí lực lượng của quân đội Đại Việt được ghi nhận như sau:
Ở mặt Đông-Bắc
quân ta trấn thủ Vĩnh Bình, Động Bàng, Nội Bàng, Vạn Kiếp, Bình Than,
chỉ huy mặt trận này là Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo; đối phó với
cánh quân Vân Nam
Ở phía Tây Bắc thì giao cho Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chỉ huy;
Phía Nam kinh đô
ta xây dựng một số địa điểm phòng thủ như Đà Mạc, A Lỗ và Đại Hoàng do
Bảo Nghĩa Hầu Trần Bình Trọng làm chỉ huy. Trên cùng, tổng chỉ huy
chiến trường là Đức Hoàng Đế Trần Nhân Tông.
Tháng 8 năm 1284, Thượng hoàng
Trần Thánh Tông đã cho mời các kỳ lão của cả nước vào thềm điện
Diên-Hồng để chiêu đãi cũng như bàn kế sách chống giặc. Khi đức Thượng
Hoàng trình bày tình hình nguy biến của nước nhà trước họa xâm lăng của
Mông-cổ, thì tất cả kỳ lão đồng hô to «Phải đánh».
Trở lại vấn đề quân Mông-cổ
muốn mở gọng kềm phương Nam để kềm chế Đại Việt bằng cách tấn công
nước Chiêm Thành. Chỉ huy đoàn quân này do Toa Đô thống lãnh đã hoàn
toàn thất bại trước sự kháng cự mãnh liệt của quân dân nước này.
Vua Nguyên đã tổ chức một bộ
máy quân sự khổng lồ sang xâm lược nước ta. Bao gồm A Lý là tướng có
công trong các trận hạ thành Tương Dương, Ngạc Châu, Phàn Thành, Tỉnh
Giang, Giang Lăng và nhiều chiến trường khác. Còn phải kể Lý Hằng,
người dứt điểm nhà Tống trong chiến dịch Nhai Sơn. Một số cận tướng với
A Lý như Áo Lỗ Xích, Trình Bằng Phi, Ô Mã Nhi, Toa Ðô, Phàn Tiếp. Phải
nói là bộ tham mưu này đã tập trung những tướng lãnh dày dặn kinh
nghiệm nhất của quân Nguyên trong chiến dịch xâm lăng nước Ðại Việt.
Ngày 21 tháng 12 năm Giáp Tý
(1284) quân Mông-cổ do Thoát Hoan cầm đầu đã tràn xuống tới biên giới
của nước ta. Thoát Hoan đã cho lý vấn quan Khúc Liệt (Kütä) và tuyên sứ
Tháp Hải Tân Lý (Taqai Sarïq) cùng Nguyễn Ðại Học đem thư của A Lý đòi
nước ta mở đường và cung cấp lương thực cho họ đi đánh Chiêm Thành.
Ðức vua của ta trả lời rằng «Từ nước tôi đến Chiêm Thành, thủy bộ đều không tiện».
Song song ngài hạ lịnh cho Hưng Ðạo Vương mang quân trấn thủ biên
giới. Trong khi các phái bộ ngoại giao Nguyên-Việt tiếp tục qua lại
trao đổi công hàm ngoại giao thì quân Nguyên tiếp tục ào ạt tiến đến
Lộc Châu (tức huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn ngày nay). Thoát Hoan sai Ðà
tổng là A Lý sang nước ta nói rõ về lý do chuyển quân là đi đánh Chiêm
Thành chứ không có ý gì khác. Trong khi đó quân Mông-cổ tiếp tục tiến
quân vào nội địa nước ta, khi chúng tiến tới núi Kheo Cấp thì bị quân ta
anh dũng chận đánh không thể tiến lên được.
Khi quân Nguyên kéo tới Lộc
Châu, nhà vua đã nhanh chóng điều động quân lính đến trấn thủ các ải
Khâu Ôn và Khâu Cấp Lãnh. Ngày 21 tháng 12 năm Giáp Thân (tức 27 tháng
một năm 1285) Thoát Hoan và A Lý Hải Nha đã chia quân ra hai hướng để
tấn công. Cánh quân phía Tây do Vạn Hộ Lý, La Hợp Ðáp Nhi (Bolqadar) và
chiêu thảo Athâm (Atsin) chỉ huy do đường huyện Khâu Ôn tiến xuống.
Cánh quân phía Ðông do khiếp tiết Tản Ðáp Nhi Ðãi (Tatartai) và vạn hộ
Lý Băng Hiến ... tới ải Nữ-Nhi (Toàn Thư, Cương Mục) còn An-Nam
Chí-Lược gọi là ải Anh-Nhi. Ở đây chúng bắt và giết một nhân viên do
thám của Đại Việt là Đỗ-Vĩ tướng quân. Quân ta chiến đấu chống giặc
Nguyên ở núi Khâu (hay Kheo) Cấp vẫn không phân thắng bại vì hai ải
Khả-Ly và Nữ-Nhi đã thất thủ, vì vậy bắt buộc phải rút về cố thủ ải Chi
Lăng (thuộc Ôn Châu, tỉnh Lạng Sơn).
Tại ải Chi Lăng mặc dù chiến
đấu anh dũng nhưng không thể nào đương cự được quân địch đông đảo gấp
bội phần nên đành phải cấp tốc rút về trấn giữ bến Vạn Kiếp (tỉnh Hải
Dương) là nơi Hưng Đạo Vương đặt tổng hành dinh điều khiển mặt trận
miền Bắc (trước đây được đặt tại ải Nội Bàng).
Như khi ngài nghe tin các ải
Chi Lăng, Nội-Bàng bị thất thủ, quân ta lui về giữ bến Vạn Kiếp, Đức
Hoàng đế Trần đã vội vàng di chuyển bằng thuyền nhẹ ra Hải Đông (chỉ
chung vùng Hải Dương cũ nay thuộc tỉnh Hải Hưng và Hải Phòng hiện nay)
để được biết thêm tin tức, do vì phải bôn ba vất vả đồng thời lo lắng
cho quân tình nên ngài không kịp ăn sáng và lúc mặt trời đã về chiều
thì có người lính tên là Trần Lai dâng cơm hẩm cho vua dùng. Ngài khen
là người trung nghĩa và đã ban thưởng chức thượng phẩm, kiêm tiểu tư xã
xã Hữu Triều Môn ở Bạch Đằng.
Khi hội ngộ, đức ngài đã ra
lịnh cho Hưng Đạo Vương điều động quân lính các lộ Hải Đông, Vân Trà,
Ba Điểm (Vân Trà Ba Điểm là hai hương lộ thuộc Hải Đông bấy giờ. Hương
Vân Trà hay Trà Hương là vùng Kim Thành, tỉnh Hải Hưng ngày nay), chọn
những người dũng cảm làm tiên phong, vượt biển vào Nam để trợ chiến
với quân bạn. Nhờ sự tăng viện kịp thời, tinh thần binh sĩ của ta mới
được phấn chấn trở lại sau những thất bại liên tiếp ở các chiến dịch
biên giới phía Bắc.
Vào ngày 26 tháng chạp năm
Giáp-thân (1284) giặc Nguyên tấn chiếm các ải Vĩnh-Châu, Nội-Bàng,
Thiết-Lược và Chi-Lăng. Trong đó Nội-Bàng là một chiến trường khá quan
trọng cho vòng đai phòng thủ kinh thành Thăng Long.
Tại Nội-Bàng khi quân ta phải
rút lui vội vàng thì Hưng Đạo Vương có hai gia tướng là Yết Kêu và Dã
Tượng, Vương dự định di chuyển bằng đường núi, nhưng Dã Tượng nói rằng
nếu Yết Kêu chưa gặp Vương thì ông ta nhất định không đưa thuyền rời
bến. Hưng Đạo Vương vội đến bến đò Bãi, quả thấy chỉ còn độc nhất chiếc
thuyền của Yết Kêu đang ở đó để chờ Vương tới cùng đi. Hưng Đạo Vương
rất mừng và nói: «chim Hồng và chim Hộc bay được cao, tất phải nhờ có lông cánh mạnh, nếu không thì chả khác gì chim thường». Nói xong liền đi thuyền cùng với Yết Kêu và Dã Tượng về họp cùng quân lính các lộ trấn giữ Vạn Kiếp và Bắc Giang.
Sự rút quân vội vã như thế cho
ta thấy tình thế rất bức bách đối với quân đội của ta, đồng thời ngoài
dự tính của Đức Hoàng Đế Trần cũng như Hưng Đạo Vương. Ấy thế, kẻ thù
vẫn không buông tha. Quân Nguyên đuổi theo đoàn quân triệt thoái và
chúng chia ra hai ngả để tấn công vào cứ điểm Vạn Kiếp. Tại đây quân
Đại Việt phải lùi thêm một bước nữa và bị thiệt mất 20 vạn chiếc thuyền
về tay giặc. Thừa cơ quân ta rút lui, chúng cướp phá, giết chóc xem
như chỗ không người, đồng thời tiến chiếm các cứ điểm Gia Lâm, Đông
Ngàn. Ở hai nơi này hễ bắt được người lính nào của ta trên tay có xâm
hai chữ «sát thát» trên cánh tay đều bị Mông-cổ giết thẳng tay.
Sau khi các phòng tuyến
Vin-Châu, Nội-Bàng, Thiết-Lược và Chi-Lăng lần lượt thất thủ sau 5 ngày
tấn công của giặc, Vua Trần Nhân Tông đã phải thay đổi chiến lược
chống giặc. .. chủ trương tác chiến ban đầu của vua Trần Nhân Tông
và Trần Hưng Đạo hình như là đưa quân lên chận giặc ngay tại những vùng
địa đầu biên giới của tổ quốc theo chiến lược Lý Thường Kiệt đã làm
hơn 200 năm trước»
Chiến lược mới vừa đánh vừa
rút, vừa tổ chức phòng thủ đồng thời chọn lựa thời điểm và chiến trường
thích hợp nhất để phản công đánh bại kẻ thù.
Ngày 26 tháng Chạp năm 1284
giặc Nguyên tấn công vào ải Nội-Bàng cũng như các ải gần đó (Toàn Thư),
còn trong An Nam Chí Lược ghi là 27 tháng Chạp. Quân ta đã rút khỏi
các ải vừa bị thất thủ và lui về phòng tuyến Vạn Kiếp. Vào lúc này nhằm
năm hết tết đến, vừa phải cấp tốc tổ chức lại sự chiến đấu cũng như
chăm sóc cho những binh sĩ bị thương còn phải chuẩn bị đón chào năm mới
Ất-Dậu, không khí thật tưng bừng phấn chấn nhất là khi Đức Hoàng Đế
Trần nhắc nhở và cổ vũ tinh thần toàn quân sau một số thất lợi ban đầu
bằng cách nói rằng «Hoan, Diễn do tồn thập vạn quân» nghĩa là ta còn đạo quân dự bị ở Hoan Diễn đến hơn trăm ngàn người.
Thoát Hoan sau khi đã chấn
chỉnh xong binh đội, ngày mồng 6 tháng Giêng năm 1285 chúng mở cuộc tấn
công vào phòng tuyến Vạn Kiếp và núi Phả Lại (tức là núi ở xã Phả Lại,
cạnh sông Lục Đầu, đối diện với thị trấn Phả Lại, huyện Chí Linh, tỉnh
Hải Hưng) của quân Đại Việt. Ở tại Vạn Kiếp, Hưng Đạo Vương đã đem
chiến thuyền dàn trận cách sông Vạn Kiếp mười dặm mà theo Cương Mục gọi
là trận «dực thủy». Dực thủy là hình thức dàn trận đánh trên
sông sắp các chiến thuyền theo hình cánh chim sãi trên mặt nước. Hình
thức này có lợi là các chiến thuyền có thể nương tựa và bảo vệ nhau
trong lúc chiến đấu. Tuy nhiên nếu gặp cường địch, thế cùng phải thoái
lui thì sẽ bị vướng víu khó lòng xoay trở kịp. Trong sách Trần Hưng Đạo
của tác giả Hoàng Thúc Trâm thì ghi là «Dục thủy» tức là trận tắm nước.
Phải nói là trận đánh tại Vạn
Kiếp xảy ra rất là cam go giữa ta và địch, chúng phải mất hơn 10 ngày
mới phá vỡ được phòng tuyến này của ta. Dĩ nhiên con số thiệt hại nhân
mạng giữa hai bên là không nhỏ, phía quân Nguyên có tướng vạn hộ Nghê
Nhuận bị tử trận ở Lưu Thôn. Quân ta rút lui thêm một lần nữa trước sức
công phá mãnh liệt của địch. Ngày 12 giặc Nguyên đánh vào Gia Lâm, Vũ
Ninh (sau là Võ Giảng, nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh), Đông Ngàn
(tức là huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Chúng đã sát hại rất nhiều binh
sĩ của ta, nhất là những người có xâm hai chữ «sát thát». Thẳng đường
giặc Nguyên chiếm luôn Đông Bộ Đầu và dựng một lá cờ lớn (lá cờ lớn
không thấy trong các bộ sử nói là cờ gì, có lẽ là cờ của quân Nguyên).
Cũng cần biết thêm rằng từ khi
chiến cuộc Nguyên Việt bùng nổ thì khắp nơi trong nước Việt đều treo
bảng yết thị của triều đình với nghiêm lịnh không được đầu hàng kẻ thù, nghiêm lịnh đó nội dung như sau: «Phàm
các quận huyện trong nước, hễ có giặc ngoài đến, thì phải liều chết cố
đánh; nếu không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, chứ
không đón hàng».
Ngày 9 tháng giêng năm Ất Dậu
(1285) Đức vua Trần Nhân Tông thống lãnh 100 ngàn quân Đại Việt cả thủy
và lục hai lộ quân ở tại phòng tuyến nơi sông Bình Than (hay Bài-Than
theo An Nam Chí Lược của Lê Tắc) để chống lại sức tấn công vũ bảo của
giặc Nguyên do các tên tướng Ô Mã Nhi, Chiêu-Thảo Nạp-Hải, Trấn-Vũ
Tống-Lâm-Đức cầm đầu. Để tấn công vào phòng tuyến này của ta, chúng đã
xử dụng những chiến thuyền tịch thu được ở trận Vạn Kiếp. Cũng tại đây
vào tháng 10 năm 1283, Vua Trần Nhân Tông đã triệu tập các vương thân
quốc thích để bàn phương sách chống giặc. Thì nay hơn một năm sau tại
bến đò Bình Than vũng Trần Xá này đã diễn ra một trận kịch chiến long
trời lở đất do đích thân ngài chỉ huy. Trận này xảy ra cho ta thấy rõ
ràng hơn chiến lược chống giặc của vị lãnh đạo của chúng ta là «mềm nắm rắn buông» hay tháo lui chiến lược phòng thủ chiến lược và phản công chiến lược. Và hiện tại ta đang ở giữa giai đoạn một và hai.
Ngày 13 tháng giêng, Đức vua
Trần cùng quân lính trấn thủ phòng tuyến sông Cái (trong sử gọi là sông
Lô) chống trả các cuộc tấn công của quân Nguyên nhưng không thành công
đành phải rút lui để lập phòng tuyến mới.
Đang lúc các trận giao tranh
xảy ra ác liệt có Chi hậu cục Đỗ Khắc Chung bước ra tình nguyện mang
thơ đi (mục đích do thám trại lính quân Nguyên), ông nói: «Thần hèn mọn bất tài, nhưng xin được đi». Đức vua khen ngợi: «Ngờ đâu trong đám ngựa xe kéo muối lại có ngựa kỳ, ngựa ký như thế».
Ngày 14 tháng giêng (1285),
quân ta lập các cứ điểm (gồm các sào lũy bằng gỗ) phòng ngự phía Nam
sông Cái để chống giặc, ở đây mở màn cho trận đánh thành Thăng Long.
Thoát Hoan cùng quan hành
tỉnh thân chinh đến phía Đông bờ sông Cái để tấn công quân nhà Trần.
Nơi đây chúng tịch thu của quân ta được 20 chiến thuyền. Quân do Hưng
Đạo Vương không đương cự nổi phải rút lui. Và quân Mông-cổ buộc bè làm
cầu, sang bờ bắc sông Phú Lương. Vua Nhân Tông bố trí binh sĩ dựng gỗ dọc theo sông. Khi thấy
quân Mông-cổ đến, quân ta nổ pháo và thách thức đánh nhau. Trận đánh
tiếp diễn đến chiều, Nguyễn Phụng Ngự được sai đi thuyết khách yêu cầu
Thoát Hoan rút lui. Dĩ nhiên quân mông-cổ làm sao chấp nhận được, chúng
vẫn nhất quyết tấn công. Để bảo toàn lực lượng vua Nhân Tông cùng binh
sĩ Đại Việt rút khỏi thành Thăng-Long ngày 14 tháng giêng năm Ất Dậu
(1285). Hôm sau, Thoát Hoan vào thành, đều thấy cung điện trống trơn,
chỉ lưu lại chiếu sắc và mấy lá thư hành tỉnh, tất cả đều bị xé nát. Ở
đây chúng ta thấy tài trí của vua Nhân Tông trong việc cầm chân kẻ thù
để rút lui binh lính một cách an toàn nhất, ít bị hao binh tổn tướng.
Về thời điểm thành Thăng-Long thất thủ năm 1285 có nhiều ghi chép như sau:
Cương Mục Chính Biên quyển VII ghi «Ngày hôm sau, kéo quân vào thành, thì lúc bấy giờ nhà vua đã chạy ra ngoài rồi, Thoát Hoan cho quân đuổi theo».
Việt Sử Tiêu Án ghi «ngày đã về chiều, quân giặc qua sông vào kinh thành». Toàn Tập Trần Nhân Tông của Lê Mạnh Thát ghi ở trang 73 như sau: «Chính trong ngày 14 tháng giêng năm Ất Dậu ấy (1285) khi Thoát Hoan vào kinh thành yến tiệc với thuộc hạ». An-Nam Chí-Lược của Lê Tắc quyển đệ tứ ghi: «Ngày 13 Bính Tuất…Trấn-Nam-Vương qua sông mở tiệc tại cung đình An-Nam». Quyển Đạo Phật và Dòng Sử Việt của tác giả Đức Nhuận ghi ở trang 265: «ngày
18 tháng 2…địch dùng súng đại bác bắn yểm trợ…kéo đến đánh chiếm Thăng
Long; nhưng khi vào được thành thì chỉ còn trơ trụi những thành quách».
Vì có sự khác biệt về ngày
Thăng-Long thất thủ, cho nên chúng tôi lấy ngày 14 tháng giêng năm Dất
Dậu (1285) là thời điểm kinh thành thất thủ.
Tuy chiếm được Thăng Long nhưng Thoát Hoan e dè sợ lọt vào ổ phục kích của ta nên không dám đóng quân trong thành.
Kế hoạch rút quân của ta từ Bình Than về Thăng Long và từ Thăng
Long về Thiên Trường là nhằm bảo toàn lực lượng tránh đi ba mũi tấn
công của giặc Nguyên. Một mũi do chính Thoát Hoan và A Lý Hải Nha từ
phía Đông Bắc xuống, mũi kế là từ Tây Bắc thọc qua do Nạp Tốc Lạt Đinh
và cuối cùng, quan trọng hơn là mũi từ phương Nam đâm lên do Toa Đô chỉ
huy.
Quân Nguyên vẫn tiếp tục truy sát quân ta để cố bắt cho được hai vị vua của ta.
Vua Nhân Tông rước Thượng Hoàng
Trần Thánh Tông đi Tam Trĩ Nguyên (là sông Ba Chế, ở huyện Ba Chế
thuộc tỉnh Quảng Ninh), Thoát Hoan khi vào thành biết rằng nhà vua đã
đi xa nên càng gấp rút đuổi theo.
Quân do thám Mông-cổ dò biết
được nơi chốn đào tỵ của hai vua nên chúng chia hai đường do Tả thừa
truy đuổi bằng đường thủy, Hữu thừa rượt theo bằng đường bộ. Đức Hoàng
đế Trần bỏ đường thủy phò Thượng Hoàng đi bộ cùng với quân dân. Trong
Cương Mục và Toàn Thư không thấy ghi cách tổ chức hành quân triệt thoái
vào đời Trần ra sao, chắc hẳn là vô cùng gian nan và bức bách. Đoàn
quân triệt thoái được an toàn đã chứng tỏ tài năng trời cho về quân sự
của vua Trần Nhân Tông suy nghĩ trong việc sắp xếp một cách chu đáo
cuộc triệt thoái này. Ngày nay nhiều nhà quân sự tiếng tăm trên thế
giới cho rằng hành quân triệt thoái nó còn khó hơn cả khi tấn công vào
đất địch vì đạo quân bị rơi vào thế thụ động vừa phải tìm cách bảo toàn
lực lượng vừa lo chống đỡ kẻ thù truy kích, thì cách đây 720 năm về
trước, một vị Hoàng đế người Việt Nam đã thành công trong việc chỉ huy
đoàn quân triệt thoái giữa lúc đang bị kẻ thù xâm lăng truy đuổi gắt
gao nhất. Người đó không ai khác hơn đó là Đức vua Trần Nhân Tông. Và
đây là cuộc triệt thoái thứ hai và được tổ chức một cách chu toàn nên
đã thành công.
Hai cuộc lui binh do chính vua
Trần Nhân Tông tổ chức năm 1285 trong cuộc kháng Nguyên lần thứ hai có
điểm tương đồng với cuộc lui binh của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa do
Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu chỉ huy từ Cao Miên về nội địa Việt Nam
năm 1971. Điểm tương đồng rõ rệt nhất của hai cuộc lui binh là cả hai
đạo quân nhà Trần do vua Trần Nhân Tông lãnh đạo và đạo quân QLVNCH của
Tướng Nguyễn Văn Hiếu chỉ huy đều bị lọt vào giữa vòng vây của quân
thù. Kế đến là hai đạo quân vừa nêu đã rút lui an toàn và bảo toàn được
lực lượng.
Một trong những phòng tuyến xa
bảo vệ Thiên Trường (Nam Định nơi đặt triều đình tạm của ta) là bãi
Tha-Mạc (tức sông Thiên-Mạc ở bên sông Cái thuộc Hưng-Yên. An-Nam
Chí-Lược gọi là ải Thiên-Hán), vị tướng trấn thủ phòng tuyến này là
Bảo-Nghĩa-Hầu Trần Bình Trọng. Bãi Tha-Mạc bị chiếm, và ông bị giặc bắt
nhưng nhất quyết không đầu hàng chẳng những như vậy còn hét vào mặt
Thoát Hoan khi chúng chiêu hàng «Ta thà làm ma nước Nam chứ không làm Vương đất Bắc» nên đã bị chúng giết.
Quân ta do Vua Trần Nhân Tông
thống lĩnh, lui về giữ ải Hải-Thị (có thể thuộc mạn Hưng-Yên), tại đây
ta làm rào cản bằng cây gỗ, tại phía Tây bờ sông để chống giặc. Quân
Nguyên từ trên và dưới bờ sông bắn tên tới tấp khiến quân ta bị tan vỡ
và phải rút đi.
Sau ngày Thăng Long thất thủ
quân Nguyên tăng cường sự có mặt ở những vùng chúng vừa chiếm đóng. Vạn
Hộ Lý Bang Hiến và Lưu Thế Anh được lịnh từ Tàu đem quân vào nước ta
lập những chốt kiểm soát. 30 dặm một trại, trại đây tức là nơi trung
chuyển tin tức từ vùng này sang vùng khác, nó cũng là nơi các bưu tín
viên (theo danh từ của ta gọi là lính thú đời xưa) dừng chân nghĩ ngơi
và thay ngựa chạy. 60 dặm đặt một trạm, trạm đây có thể là đồn binh. Sự
kiểm soát đã diễn ra rất gắt gao những vùng chúng chiếm đóng.
Một đạo quân khác của nhà
Nguyên, do Nạp Tốc Lạt Đinh chỉ huy từ Vân Nam tiến sang, vừa đến Thu
Vật (Yên-Bình, Yên-Bái) thì bị đoàn quân của Chiêu Văn Vương Trần Nhật
Duật giữ mặt Yên-Bái chận đánh, nhưng vẫn không cản nổi địch, nên phải
lui quân về giữ mạn hạ lưu sông Hồng.
Và ở bãi Tha-Mạc là nơi diễn ra
trận chiến đầu tiên sau khi kinh thành Thăng Long thất thủ do các
tướng nhà Nguyên Hữu Thừa Khoan Triệt, Vạn Hộ Mông Cổ Đãi và Bột La Hợp
Đát Nhi dẫn quân bằng đường bộ và Lý tả thừa dẫn Ô Mã Nhi Bạt Đô bằng
đường sông truy đuổi quan quân nhà Trần.
Như trên đã ghi sau khi tấn
chiếm được cứ điểm Tha-Mạc của ta, quân Nguyên tiếp tục tấn công vào cứ
điểm Hải-Thị (An-Nam Chí-Lược). Về cứ điểm này theo Kinh Thế đại điển
tự lục trong Nguyên văn loại 41 ghi «Đại quân đuổi Nhật Huyên ở sông A Lỗ và sông Đức-Cương».
Như thế cho ta thấy Hải-Thị và A-Lỗ là cùng một nơi. Hải-Thị và A-Lỗ
thuộc địa phận Hưng-Yên, Tha-Mạc cũng thuộc Hưng-Yên nằm trên lưu vực
sông Hồng, nhưng ở phía Tây theo An-Nam Chí-Lược. Như vậy Tha-Mạc và
Hải-Thị (hay A-Lỗ) ở gần nhau. Nghĩa là sau khi chiếm được Tha-Mạc
chúng đã đánh tiếp là Hải-Thị.
Ngày 28 tháng giêng, Hưng Đạo
Vương tâu với nhà vua xin cho Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải chận
đánh cánh quân của Toa Đô ở Nghệ An (cánh quân này được lịnh từ Chiêm
Thành, tiến chiếm các châu lộ phía Nam của ta, rồi Bắc tiến, phối hợp
với đạo quân của Thoát Hoan làm thành thế gọng kềm tiêu diệt quân đội
nhà Trần).
Ngày 1 tháng 2, con thứ của
Tỉnh Quốc Đại Vương Quốc Khang là thượng vị Chương Hiến Trần Kiện (Trần
Kiện vốn có hiềm khích với hoàng tử Đức Việp. Khi giặc Nguyên xâm
lăng, Kiện được lịnh trấn giữ Thanh Hóa) và thuộc hạ thân tín là Lê Tắc
(hay Trắc) ra đầu hàng quân Nguyên. Toa Đô sai quân lính đưa đám hàng
binh này về Yên kinh (thủ phủ của nhà Nguyên). Dọc đường bị các vị tù
trưởng ở Lạng Giang (tức Lạng Sơn ngày nay) là Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn
Lĩnh tập kích trại Ma Lục (ở Chi Lăng thuộc châu Lạng Giang thời đó,
nay là tỉnh Lạng Sơn). Vị tướng của Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô bắn
tên giết được Trần Kiện. Lê Tắc phải đưa xác Kiện lên ngựa, chạy trốn
trong đêm, được vài chục dặm tới Khâu Ôn và chôn tại đó.
II. Tổng phản công:
Quân Toa Đô từ Chiêm Thành kéo
về, cướp bóc ở dọc đường, trèo non xuống dốc ở khoảng châu Ô, châu Lý,
châu Hoan, châu Ái, nay về trấn đóng ở Tây Kết.
Các vị Chiêu Thành Vương
(khuyết danh), Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái
được lịnh của Đức Hoàng đế Trần đem các binh sĩ tinh nhuệ vây đánh quân
giặc ở bến Tây-Kết (ở ven sông Hồng, khoảng thôn Đông Kết, xã Đông
Bình, huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng. Ngày nay, thôn này cách sông
Hồng 3 cây số, đất bãi (tức bãi Mạn-Trù, nay thuộc xã Tân Châu), nhưng
xưa kia sông kề thôn).
Thừa thắng xông lên sau khi đã
chiếm được bến Tây-Kết, các vị Chiêu Thành Vương (khuyết danh), Chiêu
Văn Vương Trần Nhật Duật, Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, tướng quân
Nguyễn Khoái đã thẳng đường tiến đánh Hàm Tử Quan (cửa Hàm Tử: ở bãi
Hàm Tử, huyện Động Yên tỉnh Hưng Yên).
Như vậy là suốt trong tháng 4
sau khi lịnh tổng phản công được ban hành thì quân dân Đại Việt đã tái
chiếm lại các cứ điểm đã bị mất trước đây. Đó là A-Lỗ, Tây-Kết, Hàm Tử
Quan và nó đã mở rộng cửa cho đường về giải phóng Thăng Long.
Trận phản công diễn ra tại cứ
điểm A-Lỗ hay Hải-Thị do Hưng Đạo Vương chỉ huy. Đây là một trận đánh
lớn không kém phần gay go quyết liệt. Quân nhà Trần đã tấn công hai
hướng An-Lỗ và Giang-Khẩu. Ở tại Giang-Khẩu dưới sự chỉ huy của Trung
Thành Vương đã kịch chiến với tướng nhà Nguyên là Thiên Hộ Mã Vinh.
Binh sĩ Nguyên bị quân ta sát hại rất nhiều phải tháo lui. Sau đó hai
cánh quân thủy bộ của nhà Trần đã tập trung toàn bộ lực lượng đánh vào
đại doanh của chúng. Đại doanh đây chính là kinh thành Thăng Long. Mặc
dù quân giặc cố gắng chống trả, quân ta thiệt hại không ít, nhưng nhờ
chiến lược «đánh cầm chừng» trước đây nên ta đã bảo toàn được
lực lượng do đó ta có đủ lực lượng để bủa vây quân địch đến mấy lớp và
viện quân được điều đến liên tục để dứt điểm chiến trường quan trọng
này. Quân Mông-cổ vì bị vây hãm nhiều ngày, người ngựa thiệt hại, lương
thực thiếu thốn, khí giới mất mát, không có viện binh cũng chẳng có khí
cụ thay thế nên chúng buộc phải rút bỏ thành Thăng Long. Trận đánh từ
A-Lỗ qua Giang-Khẩu đến Thăng Long ắt hẳn phải kéo dài đến cả tháng
trời từ đầu tháng 4 cho đến thượng tuần tháng 5 mới hoàn tất.
Sang tháng 5 vào ngày mùng 3
năm Ất Dậu (1285) Thượng hoàng Thánh Tông và Hoàng đế Nhân Tông từ
Thanh Hóa tiến ra cùng thân chinh đánh chiếm lại Trường-Yên (hay Tràng
An theo Việt Sử Tiêu Án), ở đây quân ta đã thắng lớn, bắt được vô số
địch quân cũng như giết được nhiều quân giặc.
Chương Dương (tên bến đò, ở xã
Chương Dương, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Nội ngày nay-thuộc huyện Phong
Châu tỉnh Phú Thọ) là một cứ điểm phòng ngự lớn của giặc trước khi về
tới Thăng Long. Có thể nói đây là tiền đồn xa để phòng thủ kinh thành
Thăng Long mà giặc Nguyên gọi là đại doanh. Tại đây quân ta và Mông-cổ
đánh nhau một trận rất lớn và kẻ thù đã bị thiệt hại nặng. Có thể vì lý
do đó chúng đã không ghi một dòng chữ nào trong các quyển sử Mông-cổ,
ngoại trừ An-Nam Chí-Lược của Lê Tắc ghi vắn tắt: «Trong tháng 4, mùa hạ, An-Nam thừa cơ quân ta chỉnh mãng, đánh lấy lại La-thành».
Chương Dương là tiền đồn xa như đã nói, khi quân ta chiếm được địa
điểm tức nhiên Thăng Long chắc chắn phải lọt vào tay ta thôi. Nếu
Chương Dương không mất thì Thăng Long không bị đe dọa và cũng không bị
ta chiếm. Cho nên ở đây Lê Tắc viết: «An-Nam đánh lấy lại La-thành».
La-thành tức thành Đại-La mà Đại-La là tên cũ của thành Thăng Long,
thành này lại là đại doanh (tổng hành dinh đạo quân miền Bắc của Thoát
Hoan) như trong Kinh thế đại điển tự lục Nguyên văn loại đã ghi. Chúng
ta có thể biết được rằng kinh thành Thăng Long đã được quân ta giải
phóng từ tháng 4 nhưng mãi đến 10 tháng 5 mới có người lính của ta bị
giặc bắt ở Chương Dương trốn chạy về báo cho hai vua đang chỉ huy trận
đánh ở Trường-Yên được biết tin trên. Như vậy kinh thành Thăng Long
được quân ta giải phóng vào cuối tháng 4 và tháng 10 tháng 5 có người
chạy về Trường-Yên để báo là điều hợp lý là vì trận đánh tái chiếm
Thăng Long thành diễn ra rất gay go nên nó đã kéo dài hơn cả tháng trời.
Tuy nhiên không hiểu vì lý do gì mà Cương Mục và Việt Sử Tiêu Án lại
không đề cập đến trận đánh tái chiếm Chương Dương độ?
Về mặt trận Trường-Yên, Cương Mục ghi tiếp: «Về
phần quân Nguyên: quân của Toa Đô và quân của Thoát Hoan đóng cách
nhau đến hai trăm dặm, lúc Thoát Hoan phải rút lui quân, Toa Đô vẫn
chưa biết, nên Toa Đô và Ô Mã Nhi đem quân từ đường biển ra đánh ở sông
Thiên Mạc, định phối hợp với cánh quân Thoát Hoan để nương tựa lẫn
nhau».
Tại mặt trận Trường-Yên do
Thoát Hoan chống giữ. Thoát Hoan đã bị hai vua Trần thống lãnh quân sĩ
đánh bại nên phải rút lui và cũng không kịp báo cho Toa Đô và Ô Mã Nhi
cùng biết vì chúng đóng quân cách nhau đến hai trăm dặm.
Trong chiến dịch tổng phản công tái chiếm kinh thành Thăng-Long quân đội nhà Trần được tổ chức làm hai cánh quân:
Cánh quân thứ nhất do Thượng
tướng Trần Quang Khải cùng chư vị tướng lãnh như Hoài Văn Hầu Trần Quốc
Toản, Trần thông, Nguyễn Khả Lạp và Nguyễn Truyền thống lãnh quân lính
rầm rộ tiến về Thăng-Long sau chiến thắng Chương Dương Tử;
Cánh quân thứ hai do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung cầm đầu.
Tại mặt trận thành Thăng Long, An-Nam Chí-Lược ghi: «Ngày
Đinh Sửu mồng 5 tháng 5, Giảo Kỳ cùng Vạn-Hộ phục binh đánh vào cung
điện vua Trần, đánh tan rồi, đến sông Lư-giang hội họp với
Trấn-Nam-Vương». Bên trong thành Thăng Long, quân ta truy đuổi gắt
gao kẻ thù, Giảo-Kỳ và Vạn-Hộ rút lui sau chót (sau khi Thoát Hoan đã
chạy) phải dùng kế mai phục chận đánh quân ta bằng nỏ mới thoát được
khỏi sông Cái để họp với Thoát Hoan.
Sau khi Thăng Long đã sạch bóng
quân thù, ngày 15 tháng 3 năm Ất Dậu (1285) hai vua đã về lại kinh
thành trong tiếng khải hoàn và hai vị đã đi bái yết lăng tẩm của tổ
tiên ở Long Hưng. Thượng tướng Trần Quang Khải cảm khái làm một bài thơ
bất hủ để đánh dấu cuộc chiến đấu vô cùng dũng liệt của mọi con dân
Đại Việt đồng thời khuyến khích mọi người hãy cố gắng giữ gìn nền thái
bình đã được đánh đổi bằng sinh mạng của cả dân tộc, nội dung như sau:
Đoạt sáu Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm Tử Quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san.
Nghĩa
Chương Dương cướp dáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng giữ
Nước non ấy muôn đời.
III. Quân Sự Trận Bạch Đằng:
Sau khi đuổi giặc xong, vua Trần
Nhân Tông đã gấp rút tổ chức lại đất nước để đối phó với cuộc chiến mới
có thể xảy ra từ triều đình Mông-cổ. Ngài đã phóng thích tất cả người
Chiêm Thành bị quân ta bắt được lúc giao tranh với quân Nguyên. Phụng
ngự Đặng Du Chi vâng mệnh vua đưa về Chiêm Thành Ba Lậu Ke, Na Liên
cùng 30 người khác đi theo Toa Đô khi tên này tấn công nước láng giềng
phương Nam của ta.
Tháng 8 mùa thu năm Ất Dậu
(1285), thưởng cho những người có công đánh giặc Nguyên, và tùy theo
cấp bậc mà phong cấp cao thấp khác nhau. Đồng thời Ngài đã trị tội
những kẻ đã đầu hàng quân thù.
Tháng 9 năm Ất Dậu (1285), đổi
niên hiệu là Trùng Hưng năm thứ nhất. Đức vua ra lịnh ân xá lớn cho
trong cả nước. Ngày 12 gia tôn huy hiệu cho các vị tiên đế và tiên hậu.
Mùa đông tháng 10, vua Trần Nhân Tông xuống chiếu định hộ khẩu trong cả nước. Các quan can gián: «dân vừa lao khổ, định hộ khẩu không phải cần thiết». Ngài nói: «Chỉ có thể định hộ khẩu trong lúc này, chẳng nên qua đó mà xem xét hao hụt, điêu tàn của dân ta hay sao?»
Vua Mông-cổ rất tức giận khi
thấy đoàn tinh binh của nhà Nguyên rút chạy về nước một cách hốt hoảng,
quăng bỏ vũ khí, dày đạp lên nhau mà tháo chạy cố tìm lối thoát thân.
Hốt-Tất-Liệt đã bãi lịnh tấn công Nhật Bản để tập trung toàn bộ lực
lượng cho cuộc Nam chinh một lần nữa.
Tổng số quân Nguyên được điều
động trong lần xâm lăng thứ ba là khoảng từ 200 đến 300 ngàn quân lính
và chúng dự trù sẽ khởi sự tấn công vào tháng 9, tháng mùa đông bên Tàu
thời tiết mát mẻ dễ chịu cho binh sĩ khi phải đi xa.
Về phía Đại Việt tháng 3 năm
Đinh Hợi (1287) vua Trần Nhân Tông lại hạ chiếu ân xá cho người có tội
trong nước để an ủy dân chúng.
Tháng 4, mùa hạ, năm Đinh Hợi (1287), bổ dụng Tá Thiên Đại Vương Đức Việp làm quyền tướng quốc.
Ngày Ất Dậu, 28 tháng 10, năm
Đinh Hợi (1287) quân Mông-cổ xâm lăng nước ta lần thứ ba, khi quân của
Thoát Hoan đến huyện La-Tân. Ô Mã Nhi cùng Phàn Tiếp dẫn theo 18 ngàn
người; các tướng Ô-Vị, Trương Ngọc và Lưu-Khuê cùng 3 vạn quân, 500
chiến thuyền, 70 thuyền vận tải lương thực khởi hành từ Khâm Châu. Như
vậy, đạo quân xâm lăng của Thoát Hoan tấn công vào nước ta được ghi
nhận thành ba hướng.
Thế giặc hung hãn không khác lần trước và quân Đại Việt áp chính chiến thuật Trì hoãn chiến để bảo tồn lực lượng.
Thoát Hoa sau khi chiếm được
Thăng Long, nhưng cũng như lần trước hắn không dám lấy đó làm đại bản
doanh, mà vẫn xử dụng căn cứ Vạn Kiếp như là một tổng hành dinh điều
khiển mọi hoạt động xâm lược nước ta. Hắn đang nóng lòng mong đợi
thuyền lương tiếp viện từ bên Tàu sang, nhưng đâu biết rằng đoàn thuyền
chở lương thực của Trương Văn Hổ đã bị Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư
đánh tan ở Vân Đồn. Túng thế chúng quyết định lui binh.
Dự đoán được sự lui binh
của giặc, vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã chuẩn
bị rất kỹ lưỡng thế trận trên sông Bạch Đằng để tiêu diệt đoàn quân xâm
lược.
Bản đồ quân sự Việt Nam trận Bạch Đằng Năm 1288
Quân Nguyên rút về Tàu chia
thành nhiều hướng khác nhau. Ngày 3 tháng 3 năm Mậu Tý (1288), Hữu Thừa
Trình Bằng Phi, Thiên Tỉnh Đạt Mộc thống lĩnh kỵ binh đi rước các cánh
quân di chuyển bằng đường thủy, có lẽ đi đón đoàn thuyền của Trương
Văn Hổ hay chăng, một hy vọng chót trước khi rút về nước? Tuy nhiên khi
qua chợ Đông-Hồ thì bị cản trở bởi dòng sông phải lui trở về đường cũ
thì cầu cống đã bị quân dân nhà Trần bám theo sau phá hủy. Túng thế,
trước mặt thì bị quân ta chận đường, sau lưng là chướng ngại thiên
nhiên, đoàn quân thiện chiến của chúng đã bị dồn vào khoảng giữa. Tiếc
rằng vì không đủ lực lượng để bao vây và tiêu diệt kẻ thù, nếu không
cánh quân này khó lọt được vòng vây của ta. Chúng đã gian manh dọ hỏi
những người dân của ta bị bắt làm tù binh về lối thoát thân, cho nên
vào nửa đêm hôm đó đám quân này đã lẻn đột phá vòng vây chạy trốn theo
con đường khác phối hợp với một cánh quân Nguyên đang rút lui để cùng
nhau ra khỏi ải Nội-Bàng. Tuy bị bất ngờ bởi sự thay đổi lộ trình của
chúng, quân đội nhà Trần đuổi theo đánh rất sát vào cánh quân đi sau
của chúng. Tướng Nguyên là Vạn-Hộ Đáp-Thứ-Xích và Lưu-Thế-Anh phải dẫn
quân lính quay trở lại phía sau đối phó với quân ta. Không may các vị
tướng nhà Trần chỉ huy đoàn quân tập kích vào quân thù là Tướng quân
Phạm-Trù và Nguyễn-Kỵ đã bị chúng bắt được và đem giết đi.
Ngày 7 tháng 3 năm 1288, cánh
quân Mông-cổ rút bằng đường biển đi tới Trúc-Đông, tại đây quân nhà
Trần đã chận đánh chúng, nhưng không thành công. Tướng Nguyên là
Lư-Khuê chỉ huy cánh quân này đánh bật sự tấn công của quân ta và tịch
thu được 20 chiến thuyền.
Ngày 8 tháng 3 năm 1288, Ô Mã
Nhi chỉ huy quân lính không rút về bằng đường biển mà xử dụng con sông
Bạch Đằng để di chuyển, chúng lạc quan nghĩ rằng, đường biển đã bị
chu-sư (hải quân) nhà Trần vây chặt còn đường sông thì ta không phòng
hờ nếu chúng rút lui như thế và một nguyên do khác đó là, với con sông
Bạch Đằng này chúng ta thể rút lui được là vì nó nối liền với nội địa
Tàu bằng thủy lộ.
Theo kế hoạch đã bàn trước,
quân dân ta dưới sự đốc thúc của Hưng Ðạo Vương đã chuẩn bị một trận
địa mai phục kỹ càng trên sông Bạch Ðằng, là nơi đoàn thuyền của giặc
Nguyên sẽ băng qua trên đường rút chạy. Các loại gỗ lim, gỗ tàu đã được
đốn ngã trên rừng kéo về bờ sông và được đẽo nhọn cắm xuống lòng sông
(xem họa đồ hình thức bao vây quân giặc trên sông Bạch Ðằng) ở các cửa
dẫn ra biển như sông Rút, sông Chanh, sông Kênh làm thành những bãi
chông ngầm lớn, kín đáo dưới mặt nước. Ghềnh Cốc là một dải đá ngầm nằm
bắt ngang qua sông Bạch Ðằng nhưng phía dưới sông Chanh, đầu sông Kênh,
có thể sử dụng làm nơi mai phục quân lính phối hợp với bãi chông ngầm
nhằm ngăn chận thuyền địch khi nước rút xuống thấp. Chu-sư (thủy quân)
của ta kín đáo mai phục phía sau Ghềnh Cốc, Ðồng Cốc, Phong Cốc, sông
Khoái, sông Thái, sông Gia Ðước, Ðiền Công; còn bộ binh bố trí ở Yên
Hưng, dọc theo bờ bên trái sông Bạch Ðằng, Tràng Kênh ở bờ bên phải
sông Bạch Ðằng, núi Ðá Vôi v.v…ngoại trừ sông Ðá Bạc là để trống cho
quân Ô Mã Nhi kéo vào. Cánh quân lớn của hai vua đóng quân ở Hiệp Môn
(Kinh Môn, Hải Dương) trong tư thế sẳn sàng lâm trận cho chiến trường
quyết liệt sắp xảy ra.
Sông Bạch Đằng hiểm yếu mà hùng
vĩ chảy giữa hai huyện Yên Hưng (Quảng Ninh) và Thủy Nguyên (Hải
Phòng), cách vịnh Hạ Long, cửa Lục khoảng 40 km, cách Vạn Kiếp nơi
đóng quân của Thoát Hoan hơn 30 km, theo ngược dòng sông Kinh Thầy.
Nước sông này theo thủy triều
lên xuống, khi triều lên cao, mặt sông ở vùng Tràng Kênh trải rộng hơn
1200 mét. Dòng sông đã rộng lại sâu. Khi triều nước xuống rặc, nơi sâu
nhất đến 16 mét, trung bình giữa dòng cũng sâu từ 8 đến 11 mét. Theo
sông Đá Bạc chảy xuống đến đầu bắc dãy núi Tràng Kênh, sông Bạch Đằng
phình to hẳn ra. Đó là nơi tập trung dòng nước của các sông Khoai, sông
Xinh bên tả ngạn và sông Gia Đước, sông Thải, sông Giá bên hữu ngạn đổ
về.
Sông Chanh, sông Kênh (cửa sông
này ngày nay đã bị lấp) và sông Rút (còn gọi là sông Nam) là chi lưu
bên phía bắc Bạch Đằng chia nước chảy ra vịnh Hạ Long. Một khúc sông
không dài quá 5 km mà có năm dòng nước đổ về và có ba nhánh sông phụ
đưa nước ra biển. Đó là hình thức của thượng lưu Bạch Đằng.
Ở lòng sông Bạch Đằng từ bên
nhánh phải (thuộc xã Phục Lễ, Thủy Nguyên) có một dải còng đá ngầm chạy
qua vào quãng giữa sông Chanh và sông Rút, người dân địa phương gọi đó
là Ghềnh Cốc. Ghềnh Cốc có năm cồn đá chắn ngang ba phần tư sông Bạch
Đằng. Khi triều xuống thấp nhất, nơi cạn là 0,40 mét, nơi sâu là 3,70
mét, thuyền nhẹ đi trên sông có thể thấy được cồn đá. Ghềnh Cốc là dải
đá gốc của chân núi Tràng Kênh kéo dài ra. Khi chuẩn bị chiến trường,
Ghềnh Cốc đã khiến Trần Quốc Tuấn chú ý. Ông đã lợi dụng địa hình thiên
nhiên này sử dụng nó như là chiến lũy làm chỗ dựa cho thuyền ta lao
nhanh ra ngay sông chặn địch.
Đặc điểm địa hình nổi bật của
vùng thượng lưu Bạch Đằng là sông núi tiếp nối nhau. Từng ngọn núi nhấp
nhô ở vùng núi đá Tràng Kênh ở phía đông huyện Thủy Nguyên kéo nhau
chạy sát tới bờ sông. Ở đây có nhiều thung lũng nhỏ nằm gọn giữa những
ngọn núi đá vôi liền với lạch nước ra tận bờ sông mà dân địa phương gọi
là áng núi như Áng Hồng, Áng Lác, Áng Chậu, Áng Táu …
Các sông Khoai, sông Xinh bên
tả ngạn và sông Thái, sông Giá, sông Gia Đước bên hữu ngạn Bạch Đằng
chạy theo các áng, len qua các dãy núi, là đường giao thông thuận lợi
cho quân thủy. Những ngọn núi chắn tầm mắt địch. Áng núi và lạch sông
là nơi có thể tập trung quân thủy bộ với khối lượng lớn, giấu quân kín
đáo, xuất kích bí mật và dễ dàng, từng đội thuyền ra vào nhẹ nhàng,
nhanh chóng. Có thể nói đây là trận địa mai phục lý tưởng của quân ta.
Thủy quân địch rút lui theo đường Bạch Đằng buộc phải qua đây. Dù có đề
phòng cẩn thận, chuẩn bị sẳng sàng, binh thuyền của chúng cũng tự nhiên
phải dàn hàng qua khúc sông hiểm yếu này. Đối với ta, thủy binh và bộ
binh mai phục từ các nhánh sông đổ ra phối hợp chiến đấu dễ dàng, thuận
lợi.
Để bảo đảm cho thế trận bao vây
địch thật hoàn chỉnh, ngoài việc dựa vào địa thế thiên nhiên hiểm yếu
và lợi dụng Ghềnh Cốc như một chướng ngại thiên nhiên, Trần Quốc Tuấn
còn xây dựng ở các cửa sông những trận địa cọc vững vàng, quy mô lớn.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: trước đây Vương đã đóng cọc ở sông Bạch
Đằng phủ cỏ lên trên.
Lòng sông Bạch Đằng rất rộng và
sâu, khó có thể dựng được những hàng cọc chắn ngang sông. Ở Ghềnh Cốc
cạn hơn nhiều nhưng là đá gốc kéo dài từ Tràng Kênh nên cũng không thế
nào cắm cọc được. Mặt khác nước triều lên xuống mạnh, độ chênh lệch khá
lớn. Lưu tốc nước là 0,26 mét. Những số liệu trên đây cũng cho ta thấy
một ý niệm về sông nước Bạch Đằng đời Trần.
Ba cửa sông Chanh, sông Kênh,
sông Rút cạnh nhau dẫn thuyền từ Bạch Đằng xuôi biển. Những tài liệu
gần đây đã xác định trận địa cọc của Trần Quốc Tuấn được cắm ngang qua
các cửa sông này. Đó là những bãi cửa sông Chanh cửa sông Kênh.
Bãi cọc chính nằm ở cửa sông Chanh sát liền với sông Bạch Đằng
ngày nay ta quen gọi là bãi cọc Yên Giang. Hàng cọc đóng ngang qua
sông, theo hướng nam bắc. Hầu hết các cọc đều bằng kim hoặc gỗ cứng to
và vững chắc có đường kính từ 20 cm đến 30 cm và dài từ 1,50 cm trở
lên, phổ biến là 2 mét, những cọc trung bình từ 0,9 mét đến 1,2 mét.
Phần cọc phía dưới được đẽo vát nhọn với độ dài 0,80 mét đến 1 mét. Đa
số được cắm thẳng đứng, đóng sâu xuống đất đáy từ 1 mét đến 1,50 mét,
giữa các hàng cọc có nhiều khúc gỗ nằm ngang, có lẽ là khúc gỗ cài để
chận thuyền giặc.
Ngày 8 tháng 4 năm 1288, một
đội thuyền của địch đi trước dò đường tiến theo sông Giá. Đến Trúc Động
(Thụy Nguyên, Hải Phòng), đội thuyền này bị quân ta chận đánh phải rút
lui. Nhiệm vụ của trận này là bịt đường sông Giá để bảo đảm bí mật cho
trận địa mai phục và buộc toàn bộ đoàn thuyền của quân Mông-cổ phải
hành quân theo sông Đá Bạc vào sông Bạch Đằng, nghĩa là phải dẫn quân
vào trận địa do ta chọn sẵn. Gần đây phát giác được bãi cọc ở gần cửa
sông Chanh và một số cọc bên tả ngạn sông Bạch Đằng phía dưới sông
Chanh. Một số nhà nghiên cứu cho đó là di tích của bãi cọc trong trận
Bạch Đằng năm 1288. Niên đại của bãi cọc đó đang được nghiên cứu để xác
minh thêm.
Theo Toàn Thư «Sông Bạch Đằng từ sông Lục Đầu, tỉnh Bắc Ninh chia dòng chảy vào Hải Dương. Một nghành theo sông Mỹ, một nghành theo sông Cốc…». Địa Lý Chí của Nguyễn Trãi chép: «Sông
Bạch Đằng biệt hiệu là sông Vân Cừ, rộng hơn hai dậm. Muôn sông đứng
sắp, các nước giao dòng, sóng nổi lên trời! Cây tre rợp bãi! Thật là
nơi hiểm yếu của đường biển» (bản dịch của Nhượng Tống).
Theo nghiên cứu địa lý thì sông
Chanh, sông Kênh, sông Rút xưa kia là lạch thoát của nước sông Bạch
Đằng. Hiện nay vùng này phù sa đang bồi thêm. Vì thế nên sông Kênh chảy
qua vùng Đồng Cốc (thuộc Yên Hưng) đang bị lấp cạn, cửa sông hiện nay
chỉ còn vết trũng sâu mà dân địa phương gọi là lũng Mắt Rồng sát bờ đê
sông Bạch Đằng (Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập I trang 239).
Khi Ô Mã Nhi dẫn đoàn thuyền
tiến vào sông Bạch Đằng nhân lúc nước lớn, thủy quân nhà Trần tràn ra
khiêu chiến, sau đó giả thua chạy vào sâu bên trong. Hắn trúng kế khích
tướng nên thúc quân vận tải lương thực ra nghinh chiến, các tướng
Phàn-Tham-Chính, Hoạch Phong cùng ra tiếp ứng. Khi thuyền giặc đã vào
sâu bên trong sông Bạch Đằng, nghĩa là thuyền của chúng đang đi trên
những cọc gỗ mà quân ta cắm sẳn dưới lòng sông. Tướng quân Nguyễn Khoái
(người tỉnh Đông, lập được công lớn trong những trận phá quân Nguyên
sau này được phong tước Hầu và được ăn lộc một làng Khoái Lộ, ở phủ
Khoái Châu bây giờ) dẫn các quân lính Thánh Dực ra khiêu chiến và nhử
giặc Mông-cổ tiến sâu vào khúc sông đã đóng cọc, trong thời gian đó
quân ta đợi cho thủy triều xuống mới trở đầu thuyền lại và tấn công
thẳng vào đội hình của quân giặc.
Thủy quân Đại Việt từ Hải
Đông-Vân Trà và từ các phía Điền Công, Gia Đước, sông Thái, sông Giá
nhanh chóng tiến ra sông Bạch Đằng. Với hàng trăm chiến thuyền cùng
quân lính các lộ khác căng tay chèo thật nhanh ra sông và dựa vào Ghềnh
Cốc lập thành một dãy thuyền chặn đầu thuyền địch trong thế chấn chiến
hạm ở ngang sông. Trong lúc thủy chiến dữ dội thì đoàn chiến thuyền
của hai vua đóng ở vùng Hiệp Sơn (Kinh Môn, Hải Dương). Cũng có nơi nói
Đức Hoàng đế Trần đóng quân ở Hiệp Môn (Kinh Môn, Hải Dương) đã xông
ra tấn công giặc theo kế hoạch đã dự trù trước. Trước đó, đạo quân của
hai vua chỉ huy đóng ở vùng Hiệp Môn bên bờ sông Giáp (sông kinh Thần,
vùng Kinh Môn, Hải Dương) làm nhiệm vụ đánh cầm chừng và cản bước tiến
của giặc. Đạo quân của hai vua tấn công từ phía sau của quân giặc khiến
chúng càng bị lúng túng và tổn thất rất nặng. Bị tấn công tới tấp trên
sông, một số cánh quân khác của địch bỏ thuyền chạy lên bờ sông bên
trái của Yên Hưng để tìm đường trốn thoát. Nhưng vừa lên tới bờ chúng
lại rơi vào ổ phục kích của quân ta, và một trận đánh ác liệt đã xảy
ra. Trời về chiều khi chiến trường sắp kết thúc, cánh quân của Thoát
Hoan đóng gần đó vẫn án binh bất động không tới tiếp ứng, hắn đã bỏ rơi Ô
Mã Nhi cùng với thuộc hạ chống đỡ thụ động trước sự tấn công của quân
ta và đạo quân này hoàn toàn bị quân ta tiêu diệt. Theo Nguyên sử,
truyện của Phàn Tiếp chép rằng kịch chiến xảy ra từ giờ mão đến giờ
dần, tức là từ sáng ròng rã kéo dài đến chiều.
Đặc điểm của sông Bạch Đằng là
khi nước lớn rất nhanh mà nước rút cũng khá lẹ. Cho nên khi nước rút
quá lẹ như thế thuyền của giặc Nguyên bị cọc gỗ đâm trúng, lật đỗ cả,
quân giặc chết đuối vô số kể, máu đã chan hòa cả dòng sông. Quân ta
tịch thu được hơn 400 chiến thuyền, Tước Nội Linh Tự Đỗ Hành bắt sống
được Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ Ngọc (Nhiều tài liệu khác ghi là Tích Lê Cơ
hay Tích Lê Cơ Đại Vương. Viên tướng Mông-cổ này tên là Tích Lê Cơ,
còn Vương là tước hiệu. Chữ Ngọc? chép lầm từ chữ chữ Vương? Chú thích Toàn Thư) và đem dâng cho Thượng hoàng Thánh Tông.
An-Nam Chí-Lược (sử của giặc
Nguyên do phản thần triều đình nhà Trần ghi lại) có ghi các tướng
Nguyên là Phàn Tiếp và Hoạch Phong đến tiếp ứng cho Ô Mã Nhi, nhưng
không ghi rõ sống chết. Tuy nhiên, trong Nguyên Sử có chép về Phàn Tiếp
như sau (tờ 10 b 2-3): «Tiếp cùng Ô Mã Nhi đem quân thủy trở về,
bị giặc đón chận. Triều sông Bạch Đằng xuống, thuyền Tiếp mắc cạn.
Thuyền giặc dồn về nhiều, tên bắn như mưa. tiếp hết sức đánh từ giờ mão
đến giờ dậu. Tiếp bị súng bắn, rớt xuống nước. Giặc móc lên bắt, dùng
thuốc độc giết».
Chiến thắng Bạch Đằng có một ý
nghĩa quan trọng đó là quân dân Đại Việt đánh tan toàn bộ đoàn quân
triệt thoái của giặc triệt thoái bằng đường thủy do Ô Mã Nhi đích thân
chỉ huy. Từ bấy lâu nay mỗi khi nhắc tới chiến thắng này chúng ta
thường đề cập tới Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là người đã có công tạo
nên. Các quyển sử xưa như Cương Mục, Toàn Thơ thường nhắc tới người
lãnh đạo tối cao của quân dân nhà Trần vào lúc đó là Đức Hoàng Đế Trần
Nhân Tông (tức Hoàng đế Kim Phật) đã lãnh đạo thành công hai lần kháng
Nguyên 1285 và 1288. Khi đề cập tới Hưng Đạo Vương về trận Bạch Đằng
chúng ta không thể nào không nhắc tới Đức Hoàng đế Trần Nhân Tông. Đức
Hoàng đế Trần Nhân Tông vừa là bậc lãnh đạo chính trị kiêm chỉ huy tối
cao về quân sự (mặc dù Hưng Đạo Vương là Tiết chế được xem như là tổng
tham mưu trưởng, nhưng Đức Hoàng đế Trần lại là vị tổng tư lịnh tối
cao), và là người đã đề ra mọi đối sách từ ngoại giao đến quân sự nội
trị đưa đến kết quả là Đại Việt đã thành công đánh bại giặc Nguyên qua
hai cuộc xâm lăng của chúng.
Trương Hán Siêu đã ca ngợi chiến thắng ở sông Bạch Ðằng qua
Bài Phú Sông Bạch Ðằng
Khách có kẻ: Chèo bể bơi trăng,
buồm mây giang, gió. Sớm ngọn Tương kia, chiều hang Vũ nọ. Vùng vẫy
Giang, Hồ: tiêu dao Ngô, Sở. Ði cho biết đây, đi cho biết đó. Chằm
Vân-mộng chứa ở trong kho tư-tưởng, đã biết bao nhiêu, mà cái trí khí
tứ phương, vẫn còn hăm hở!
Mới học thói Tử-trương: bốn bể
ngao du. Qua cửa Ðại-than sang bến Ðông-triều, đến sông Bạch-Ðằng, đứng
đỉnh phiến-chu. Trắng xóa sông kềnh muôn dặm, xanh rì dặng ác một màu.
Nước trời lộn sắc, phong cảnh vừa thu. Ngàn lau quạnh cõi, bến lách
đìu-hiu. Giáo gậy đầu sông, cốt khô đầy gò. Ngậm ngùi đứng lắng ngắm
cuộc sống phù du. Thương kẻ anh hùng đâu vắng tá, mà đây dấu vết hãy
còn lưu.
Kia kìa, bến sông, phu lão
người đâu. Lượng trong bụng ta, chứng có sở cầu. Hoặc gậy trống trước,
hoặc thuyền bơi sau. Vái tạ mà thưa rằng: Đây là chỗ chiến địa vua Trần
bắt giặc Nguyên, và là nơi cố-châu của vua Ngô phá quân Lưu đây.
Đương khi: muôn đội thuyền bày, hai quân giáo chỉ. Gươm tuốt
sáng lòe, cờ bay đỏ khí! Tướng Bắc quân Nam đôi bên đối lũy. Đã nổi gió
mà bay mây, lại kinh thiên mà động địa. Kìa quân Nam-Hán nó mưu sâu,
nọ Hồ-Nguyên có sức khỏe. Nó bảo rằng: phen này đạp đổ nước Nam, tưởng
chừng có dễ.
May sao: Trời giúp quân ta, mây
tan trận nó, khác nào như quân Tào Tháo bị vỡ ở sông Xích-bích khi
xưa, giặc Bồ Kiên bị tan ở bến Hợp-phù thuở nọ. Ấy cái nhục tày trời
của họ, há những một thời, mà cái công tái tạo của ta lưu danh thiên
cổ.
Tuy vậy, từ thuở có trời có
đất, vẫn có giang-san. Trời đặt ra nơi hiểm-trở, người tính lấy cuộc
tồn-an. Hội này bằng hội Mạnh-tân, như vương-sự họ Lã; trận nào bằng
trận Dung-thủy, như quốc sĩ họ Hàn. Kìa trận Bạch-Đằng này mà
đại-thắng, bởi chưng Đại-vương coi thế giặc nhàn. Tiếng thơm còn mãi,
bia miệng hao mòn. Nhớ ai sa giọt lệ, hổ mình với nước non!
Rồi vừa đi vừa hát rằng:
Sông Đằng một dải dài ghê!
Cuồng to sóng lớn dồn về biển Đông.
Trời Nam sinh kẻ anh hùng.
Tăm kềnh yên lặng, non sông vững-vàng
Khách vừa đi vừa hát rằng:
Vua Trần hai vị Thánh-quân.
Sông kia còn dấu tẩy trần giáp-binh
Nghìn xưa gẫm cuộc thăng-bình.
Tài đâu đất hiểm, bởi mình đức cao.
Nguyên văn chữ Nho của Trương Hán Siêu, Đông Châu dịch.
Khảo về địa-dư và lịch-sử tỉnh Quảng-Yên (Nam-phong tạp-chí, tập XIV số 8, tháng 6-1924).
Thơ của Phan Lập Trai thì ghi
Biển Châu hiển phát Chương Dương độ
Dãn kiến sa âu phù chân chử
Dục mịch Trần Nguyên cổ chiến trường
Tưởng tại trung lưu soan khích xứ.
Dịch nghĩa:
Buổi sáng cưỡi thuyền nhỏ ra bến Chương Dương,
Chỉ trông thấy đàn chim âu bơi trên sóng nước.
Muốn tìm cảnh chiến trường xưa giữa quân Trần và quân Mông-cổ
Tưởng tượng ở chốn nước xoáy giữa dòng.
(Việt Nam Văn Học Sử Yếu tập I, giáo sư Dương Quảng Hàm, trang 152)
Bản dịch Bạch Đằng giang phú của Nguyễn Hữu Tiến, Bùi Văn Nguyên
Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió chơi vơi
Lướt bể chơi trăng mải miết
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương
Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt
Cửu Giang, Ngũ Hồ
Tam ngô, Bách Việt
Nơi có người đi
Ðâu mà chẳng biết
Ðầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều
Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết.
Bèn giữa dòng chừ buông chèo
Học Tử Trường chừ thú tiêu diêu
Qua cửa Ðại Than
Ngược bến Ðông Triều
Ðến sông Bạch đằng
Rong chơi mái chèo
Bát ngát sóng kình muôn dặm
Bập bềnh đuôi trĩ liền nhau
Nước trời: một sắc
Phong cảnh: ba thu
Ngàn lau xào xạc
Bến lách đìu hiu
Sông chìm giáo gãy
Gò đầy xương khô
Buồn vì cảnh thảm
Ðứng lặng giờ lâu
Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá?
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu!
Bên sông, bô lão hỏi ta sở cầu
Có kẻ gậy lê chống trước
Có người thuyền nhẹ bơi sau
Vái ta mà thưa rằng:
Ðây là chiến địa buổi Trùng hưng Nhị thánh bắt Ô Mã
Cũng là bãi đất xưa Ngô chúa phá Hoằng Thao
Ðương khi ấy:
Thuyền bè muôn đội
Tinh kỳ phấp phới
Tì hổ ba quân
Gíao gươm sáng chói
Trận đánh thư hùng chửa phân
Chiến lũy Bắc Nam chống đối
ánh nhật nguyệt chừ phải mờ
Bầu trời đất chừ sắp đổi
Kìa! Tất Liệt thế cường
Lưu Cung chước dối
Những tưởng gieo roi một lần
Quét sạch Nam bang bốn cõi
Thế nhưng:
Trời cũng chiều người
Hung đồ hết lối
Khác nào như khi xưa :
Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay
Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết rụi
Ðến nay nước sông tuy chảy hòai
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi
Tái tạo công lao
Nghìn thu ca ngợi
Tuy nhiên;
Từ có vũ trụ
Ðã có giang sanh
Quả là trời đất cho nơi hiểm trở
Cũng nhờ nhân tài giữ được điện an
Hội nào bằng Hội Mạnh Tân, có vương sư họ Lã
Trận nào bằng trận Duy Thủy, có quốc sĩ họ Hàn
Kìa trận Bạch đằng mà đại thắng
Bởi Ðại vương coi thế giặc nhàn
Tiếng thơm đồn mãi
Bia miệng không mòn
Khách chơi sông chừ ủ mặt
Người hòai cổ chừ lệ chan
Rồi vừa đi vừa ca rằng:
Sông Ðằng một dãi dài ghê
Luồng to sóng lớn tuôn về bể Ðông
Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh
Khách cũng nối tiếp mà ca rằng:
Anh minh hai vị thánh quân
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh
Giặc tan, muôn thuở thanh bình
Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.
IV. Kết Luận:
Từ lâu nay các giới biên khảo
nghiên cứu đã ngưỡng mộ vua Trần Nhân Tông là vị Tổ sáng lập dòng thiền
Trúc Lâm Yên Tử, và các mặt khác như văn hóa, giáo dục cũng như thơ
phú. Hôm nay chúng tôi đề cập đến một khía cạnh tài ba của Vua Trần
Nhân Tông mà ít có người nhắc đến, đó là lãnh vực quân sự.
Khi quân Mông-cổ tràn qua xâm
lăng đất nước chúng ta lần thứ hai, lần thứ ba, nếu không có trí tuệ
sáng suốt, tài ngoại giao khéo léo, nghệ thuật lãnh đạo cuộc chiến một
cách đầy mưu lược, cũng như lòng can đảm để đương đầu trước mọi tình
hình và nhân từ trong việc đối xử với người trong gia tộc, dân chúng,
binh lính cho đến kẻ thù thì vua Trần Nhân Tông làm sao có thể hội tụ
được sức mạnh của toàn dân tộc để chống lại quân thù. Ngài là bậc Thánh
Quân vừa là bậc Thiên tài quân sự có một không hai trong lịch sử dân
tộc nên đã được các danh tướng như Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Trần
Bình Trọng, Trần Quốc Tảng v.v… hết lòng phù trợ. Đó là những sự thực
lịch sử mà mỗi người trong chúng ta cần ghi khắc và lấy tấm gương sáng
ngời của Ngài truyền lại cho thế hệ con cháu chúng ta sau này.
Xuyên qua tài năng trời cho về
mặt quân sự, vua Trần Nhân Tông là bậc đứng đầu trong Thiên Tài Quân Sự
trong một ngàn năm thứ hai của tộc Việt.
Sau khi khuất núi được người đời sau tôn xưng là Phật Hoàng Trần Nhân Tông.
Các tác phẩm văn học để lại gồm:
Chữ Tàu:
- Tăng Già Toái Sự.
- Thạch Thất Mị Ngữ.
- Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục.
- Trúc Lâm Hậu Lục.
- Ðại Hương Hải Ấn Thi Tập.
Chữ Việt (Nôm)
- Cư Trần Lạc Ðạo Phú.
- Ðắc Thú Lâm Tuyền Thành Ðạo Ca.
2/ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ( 興道大王陳國峻, 1232? - 1300)
là danh tướng thời nhà Trần, có công lớn ba lần phá tan quân Nguyên xâm lược 1257, 1285, 1288.
Được phong Quốc công, tiết chế thống lĩnh các sắc quân tháng 10 năm 1283.
Mùa thu tháng 8 năm 1284, Hưng
Đạo Vương thừa lịnh Đức vua Trần Nhân Tông điều khiển các sắc quân của
vương hầu, mở cuộc duyệt binh lớn ở Đông-bộ-đầu (tức bến sông Hồng phía
trên cầu Long Biên gần dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay) rồi chia quân
trấn giữ Bình-Than cũng như các nơi trọng yếu. Hưng Đạo Vương Trần Quốc
Tuấn đã phổ biến bài Hịch Chiến Sĩ đến toàn quân sĩ Đại Việt.
Sự bố trí lực lượng của quân đội Đại Việt được ghi nhận như sau:
Ở mặt Đông-Bắc
quân ta trấn thủ Vĩnh Bình, Động Bàng, Nội Bàng, Vạn Kiếp, Bình Than,
chỉ huy mặt trận này là Quốc Công Tiết Chế Trần Hưng Đạo; đối phó với
cánh quân Vân Nam
Ở phía Tây Bắc thì giao cho Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật chỉ huy;
Phía Nam kinh đô ta xây dựng một số địa điểm phòng thủ như Đà Mạc, A Lỗ và Đại Hoàng do Bảo Nghĩa Hầu Trần Bình Trọng làm chỉ huy.
Ngày 21 tháng 12 năm Giáp Tý (1284) quân Mông-cổ do Thoát Hoan cầm đầu đã tràn xuống tới biên giới của nước ta.
Quân Nguyên tấn công ải Chi
Lăng mặc dù chiến đấu anh dũng nhưng quân sĩ Đại Việt không thể nào
đương cự được quân địch đông đảo gấp bội phần nên đành phải cấp tốc rút
về trấn giữ bến Vạn Kiếp (tỉnh Hải Dương) là nơi Hưng Đạo Vương đặt
tổng hành dinh điều khiển mặt trận miền Bắc (trước đây được đặt tại ải
Nội Bàng).
Như khi Vua Nhân Tông nghe tin
các ải Chi Lăng, Nội-Bàng bị thất thủ, quân ta lui về giữ bến Vạn Kiếp,
Đức Hoàng đế Trần đã vội vàng di chuyển bằng thuyền nhẹ ra Hải Đông
(chỉ chung vùng Hải Dương cũ nay thuộc tỉnh Hải Hưng và Hải Phòng hiện
nay) để được biết thêm tin tức, do vì phải bôn ba vất vả đồng thời lo
lắng cho quân tình nên ngài không kịp ăn sáng và lúc mặt trời đã về
chiều thì có người lính tên là Trần Lai dâng cơm hẩm cho vua dùng. Ngài
khen là người trung nghĩa và đã ban thưởng chức thượng phẩm, kiêm tiểu
tư xã xã Hữu Triều Môn ở Bạch Đằng.
Khi hội ngộ, đức ngài đã ra
lịnh cho Hưng Đạo Vương điều động quân lính các lộ Hải Đông, Vân Trà,
Ba Điểm (Vân Trà Ba Điểm là hai hương lộ thuộc Hải Đông bấy giờ. Hương
Vân Trà hay Trà Hương là vùng Kim Thành, tỉnh Hải Hưng ngày nay), chọn
những người dũng cảm làm tiên phong, vượt biển vào Nam để trợ chiến với
quân bạn. Nhờ sự tăng viện kịp thời, tinh thần binh sĩ của ta mới được
phấn chấn trở lại sau những thất bại liên tiếp ở các chiến dịch biên
giới phía Bắc.
Vào ngày 26 tháng chạp năm
Giáp-thân (1284) giặc Nguyên tấn chiếm các ải Vĩnh-Châu, Nội-Bàng,
Thiết-Lược và Chi-Lăng. Trong đó Nội-Bàng là một chiến trường khá quan
trọng cho vòng đai phòng thủ kinh thành Thăng Long.
Tại Nội-Bàng khi quân ta phải
rút lui vội vàng thì Hưng Đạo Vương có hai gia tướng là Yết Kêu và Dã
Tượng, Vương dự định di chuyển bằng đường núi, nhưng Dã Tượng nói rằng
nếu Yết Kêu chưa gặp Vương thì ông ta nhất định không đưa thuyền rời
bến. Hưng Đạo Vương vội đến bến đò Bãi, quả thấy chỉ còn độc nhất chiếc
thuyền của Yết Kêu đang ở đó để chờ Vương tới cùng đi. Hưng Đạo Vương
rất mừng và nói: «chim Hồng và chim Hộc bay được cao, tất phải nhờ có lông cánh mạnh, nếu không thì chả khác gì chim thường». Nói xong liền đi thuyền cùng với Yết Kêu và Dã Tượng về họp cùng quân lính các lộ trấn giữ Vạn Kiếp và Bắc Giang.
Ngày mồng 6 tháng Giêng năm
1285 quân Nguyên mở cuộc tấn công vào phòng tuyến Vạn Kiếp và núi Phả
Lại (tức là núi ở xã Phả Lại, cạnh sông Lục Đầu, đối diện với thị trấn
Phả Lại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng) của quân Đại Việt. Ở tại Vạn
Kiếp, Hưng Đạo Vương đã đem chiến thuyền dàn trận cách sông Vạn Kiếp
mười dặm mà theo Cương Mục gọi là trận «dực thủy». Dực thủy là
hình thức dàn trận đánh trên sông sắp các chiến thuyền theo hình cánh
chim sãi trên mặt nước. Hình thức này có lợi là các chiến thuyền có thể
nương tựa và bảo vệ nhau trong lúc chiến đấu. Tuy nhiên nếu gặp cường
địch, thế cùng phải thoái lui thì sẽ bị vướng víu khó lòng xoay trở
kịp. Trong sách Trần Hưng Đạo của tác giả Hoàng Thúc Trâm thì ghi là «Dục thủy» tức là trận tắm nước.
Trận đánh tại đây xảy ra rất là
cam go giữa ta và địch, chúng phải mất hơn 10 ngày mới phá vỡ được
phòng tuyến này của ta. Dĩ nhiên con số thiệt hại nhân mạng giữa hai
bên là không nhỏ, phía quân Nguyên có tướng vạn hộ Nghê Nhuận bị tử
trận ở Lưu Thôn. Quân ta rút lui thêm một lần nữa trước sức công phá
mãnh liệt của địch. Ngày 12 giặc Nguyên đánh vào Gia Lâm, Vũ Ninh (sau
là Võ Giảng, nay là huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh), Đông Ngàn (tức là
huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Chúng đã sát hại rất nhiều binh sĩ của
ta, nhất là những người có xâm hai chữ «sát thát». Thẳng đường giặc
Nguyên chiếm luôn Đông Bộ Đầu và dựng một lá cờ lớn (lá cờ lớn không
thấy trong các bộ sử nói là cờ gì, có lẽ là cờ của quân Nguyên).
Ngày 14 tháng giêng (1285),
quân ta lập các cứ điểm (gồm các sào lũy bằng gỗ) phòng ngự phía Nam
sông Cái để chống giặc, ở đây mở màn cho trận đánh thành Thăng Long.
Thoát Hoan cùng quan hành tỉnh
thân chinh đến phía Đông bờ sông Cái để tấn công quân nhà Trần. Nơi đây
chúng tịch thu của quân ta được 20 chiến thuyền. Quân do Hưng Đạo
Vương không đương cự nổi phải rút lui.
Ngày 14 tháng giêng năm Dất Dậu
(1285) là thời điểm kinh thành thất thủ. Tuy chiếm được Thăng Long
nhưng Thoát Hoan e dè sợ lọt vào ổ phục kích của ta nên không dám đóng
quân trong thành.
Sau ngày Thăng Long thất thủ
quân Nguyên tăng cường sự có mặt ở những vùng chúng vừa chiếm đóng. Vạn
Hộ Lý Bang Hiến và Lưu Thế Anh được lịnh từ Tàu đem quân vào nước ta
lập những chốt kiểm soát. 30 dặm một trại, trại đây tức là nơi trung
chuyển tin tức từ vùng này sang vùng khác, nó cũng là nơi các bưu tín
viên (theo danh từ của ta gọi là lính thú đời xưa) dừng chân nghĩ ngơi
và thay ngựa chạy. 60 dặm đặt một trạm, trạm đây có thể là đồn binh. Sự
kiểm soát đã diễn ra rất gắt gao những vùng chúng chiếm đóng.
Một đạo quân khác của nhà
Nguyên, do Nạp Tốc Lạt Đinh chỉ huy từ Vân Nam tiến sang, vừa đến Thu
Vật (Yên-Bình, Yên-Bái) thì bị đoàn quân của Chiêu Văn Vương Trần Nhật
Duật giữ mặt Yên-Bái chận đánh, nhưng vẫn không cản nổi địch, nên phải
lui quân về giữ mạn hạ lưu sông Hồng.
Và ở bãi Tha-Mạc là nơi diễn ra
trận chiến đầu tiên sau khi kinh thành Thăng Long thất thủ do các
tướng nhà Nguyên Hữu Thừa Khoan Triệt, Vạn Hộ Mông Cổ Đãi và Bột La Hợp
Đát Nhi dẫn quân bằng đường bộ và Lý tả thừa dẫn Ô Mã Nhi Bạt Đô bằng
đường sông truy đuổi quan quân nhà Trần.
Ngày 28 tháng giêng, Hưng Đạo
Vương tâu với nhà vua xin cho Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải chận
đánh cánh quân của Toa Đô ở Nghệ An (cánh quân này được lịnh từ Chiêm
Thành, tiến chiếm các châu lộ phía Nam của ta, rồi Bắc tiến, phối hợp
với đạo quân của Thoát Hoan làm thành thế gọng kềm tiêu diệt quân đội
nhà Trần).
Ngày 1 tháng 2, con thứ của
Tỉnh Quốc Đại Vương Quốc Khang là thượng vị Chương Hiến Trần Kiện (Trần
Kiện vốn có hiềm khích với hoàng tử Đức Việp. Khi giặc Nguyên xâm
lăng, Kiện được lịnh trấn giữ Thanh Hóa) và thuộc hạ thân tín là Lê Tắc
(hay Trắc) ra đầu hàng quân Nguyên. Toa Đô sai quân lính đưa đám hàng
binh này về Yên kinh (thủ phủ của nhà Nguyên). Dọc đường bị các vị tù
trưởng ở Lạng Giang (tức Lạng Sơn ngày nay) là Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn
Lĩnh tập kích trại Ma Lục (ở Chi Lăng thuộc châu Lạng Giang thời đó,
nay là tỉnh Lạng Sơn). Vị tướng của Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô bắn
tên giết được Trần Kiện. Lê Tắc phải đưa xác Kiện lên ngựa, chạy trốn
trong đêm, được vài chục dặm tới Khâu Ôn và chôn tại đó.
Quân Toa Đô từ Chiêm Thành kéo về, cướp bóc ở dọc đường, trèo
non xuống dốc ở khoảng châu Ô, châu Lý, châu Hoan, châu Ái, nay về trấn
đóng ở Tây Kết.
Các vị Chiêu Thành Vương
(khuyết danh), Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái
được lịnh của Đức Hoàng đế Trần đem các binh sĩ tinh nhuệ vây đánh quân
giặc ở bến Tây-Kết (ở ven sông Hồng, khoảng thôn Đông Kết, xã Đông
Bình, huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng. Ngày nay, thôn này cách sông
Hồng 3 cây số, đất bãi (tức bãi Mạn-Trù, nay thuộc xã Tân Châu), nhưng
xưa kia sông kề thôn).
Thừa thắng xông lên sau khi đã
chiếm được bến Tây-Kết, các vị Chiêu Thành Vương (khuyết danh), Chiêu
Văn Vương Trần Nhật Duật, Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, tướng quân
Nguyễn Khoái đã thẳng đường tiến đánh Hàm Tử Quan (cửa Hàm Tử: ở bãi
Hàm Tử, huyện Động Yên tỉnh Hưng Yên).
Như vậy là suốt trong tháng 4
sau khi lịnh tổng phản công được ban hành thì quân dân Đại Việt đã tái
chiếm lại các cứ điểm đã bị mất trước đây. Đó là A-Lỗ, Tây-Kết, Hàm Tử
Quan và từ đó đã mở rộng cho đường về giải phóng Thăng Long.
Trận phản công diễn ra tại cứ
điểm A-Lỗ hay Hải-Thị do Hưng Đạo Vương chỉ huy. Đây là một trận đánh
lớn không kém phần gay go quyết liệt. Quân nhà Trần đã tấn công hai
hướng An-Lỗ và Giang-Khẩu. Ở tại Giang-Khẩu dưới sự chỉ huy của Trung
Thành Vương đã kịch chiến với tướng nhà Nguyên là Thiên Hộ Mã Vinh.
Binh sĩ Nguyên bị quân ta sát hại rất nhiều phải tháo lui. Sau đó hai
cánh quân thủy bộ của nhà Trần đã tập trung toàn bộ lực lượng đánh vào
đại doanh của chúng. Đại doanh đây chính là kinh thành Thăng Long. Mặc
dù quân giặc cố gắng chống trả, quân ta thiệt hại không ít, nhưng nhờ
chiến lược «đánh cầm chừng» trước đây nên ta đã bảo toàn được
lực lượng do đó ta có đủ lực lượng để bủa vây quân địch đến mấy lớp và
viện quân được điều đến liên tục để dứt điểm chiến trường quan trọng
này. Quân Mông-cổ vì bị vây hãm nhiều ngày, người ngựa thiệt hại, lương
thực thiếu thốn, khí giới mất mát, không có viện binh cũng chẳng có
khí cụ thay thế nên chúng buộc phải rút bỏ thành Thăng Long. Trận đánh
từ A-Lỗ qua Giang-Khẩu đến Thăng Long ắt hẳn phải kéo dài đến cả tháng
trời từ đầu tháng 4 cho đến thượng tuần tháng 5 mới hoàn tất.
Trong chiến dịch tổng phản công tái chiếm kinh thành Thăng-Long quân đội nhà Trần được tổ chức làm hai cánh quân:
Cánh quân thứ nhất do Thượng
tướng Trần Quang Khải cùng chư vị tướng lãnh như Hoài Văn Hầu Trần Quốc
Toản, Trần thông, Nguyễn Khả Lạp và Nguyễn Truyền thống lãnh quân lính
rầm rộ tiến về Thăng-Long sau chiến thắng Chương Dương Tử;
Cánh quân thứ hai do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung cầm đầu.
Ngày 15 tháng 3 năm Ất Dậu (1285) Thăng Long đã sạch bóng quân thù.
Ngày Ất Dậu, 28 tháng 10, năm
Đinh Hợi (1287) quân Mông-cổ xâm lăng nước ta lần thứ ba, khi quân của
Thoát Hoan đến huyện La-Tân. Ô Mã Nhi cùng Phàn Tiếp dẫn theo 18 ngàn
người; các tướng Ô-Vị, Trương Ngọc và Lưu-Khuê cùng 3 vạn quân, 500
chiến thuyền, 70 thuyền vận tải lương thực khởi hành từ Khâm Châu. Như
vậy, đạo quân xâm lăng của Thoát Hoan tấn công vào nước ta được ghi
nhận thành ba hướng.
Thoát Hoa sau khi chiếm được
Thăng Long, nhưng cũng như lần trước hắn không dám lấy đó làm đại bản
doanh, mà vẫn xử dụng căn cứ Vạn Kiếp như là một tổng hành dinh điều
khiển mọi hoạt động xâm lược nước ta. Hắn đang nóng lòng mong đợi
thuyền lương tiếp viện từ bên Tàu sang, nhưng đâu biết rằng đoàn thuyền
chở lương thực của Trương Văn Hổ đã bị Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư
đánh tan ở Vân Đồn. Túng thế chúng quyết định lui binh.
Dự đoán được sự lui binh
của giặc, vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã chuẩn
bị rất kỹ lưỡng thế trận trên sông Bạch Đằng để tiêu diệt đoàn quân xâm
lược.
Hưng Đạo Vương đã cùng với Hai
Vua đánh tan toàn bộ quân Nguyên trên sông Bạch Đằng năm 1288. Đây là
một chiến tích lẫy lừng thiên niên kỷ.
Khi Hưng Đạo Vương bị bịnh. Vua Anh Tông ngự tới nhà thăm, và hỏi rằng:
"Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào".
Vương trả lời:
"Ngày xưa Triệu Vũ dựng
nước, vua Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế "thanh dã" *, đại quân ra
Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, còn đoản binh thì đánh úp phía
sau. Đó là một thời. Đời Đinh, Lê dùng người tài giỏi, đất phương Nam
mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân
không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời.
Vua Lý mở nền, nhà Tống xâm
phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh
là vì có thế. Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng
tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui
nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản
chế trường là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến
như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn,
không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền
biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như
cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy".
Khi sắp mất, ông dặn con rằng:
Ta chết thì phải hỏa táng, lấy vật tròn đựng xương, bí mật chôn trong
vườn An Lạc, rồi san đất và trồng cây như cũ, để người đời sau không
biết chỗ nào.
Hưng Đạo Vương từng trấn giữ
Lạng Giang, và ba lần chiến thắng giặc Mông cổ xâm lăng nước ta, sợ
rằng sau này có thể xảy ra tai họa đào mả, nên đã căn dặn con cháu sau
khi mất lại phải làm như vậy. Mất ở phủ đệ Vạn Kiếp vào mùa thu ngày
20, tháng 8 năm 1300, được phong tặng là Thái sư thượng phụ thượng quốc
công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương.
Ông còn là tác giả bộ Binh Thư Yếu
Lược (hay Binh Gia Diệu Lý Yếu Lược) và sưu tập các loại binh pháp,
làm thành Bát quái cửu cung đồ, đặt tên là Vạn Kiếp Tông Bí Truyền Thư
(đã thất lạc). Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư có viết bài tựa như sau:
"Người giỏi cầm quân thì
không cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh, người
giỏi đánh thì không thua, người khéo thua thì không chết".
Ngài được dân Việt tôn sùng như
bậc thánh, nên gọi là Đức Thánh Trần. Lê Tự Chi (đầu thế kỷ thứ 16),
phần bổ túc của Tam thanh quán đạo nhân (đời Lê mạt), những phần bình
luận, chú giải của Cao Dương Diệu, Lê Thuần Phủ tức Lê Hữu Hỷ đầu thế
kỷ thứ 18 đã bổ túc nhiều truyện vào Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế
Xuyên. Trong số truyện của các vị thần như truyện Triệu Xương, truyện
Từ Đạo hạnh, có cả truyện Trần Quốc Tuấn. Ngài còn được tín ngưỡng là
một trong những vị thánh của dòng Đạo Nội là một Đạo giáo dân tộc.
Trong dân gian có câu
Tháng tám giỗ cha
Tháng ba giỗ mẹ.
Cha đây là Đức thánh Trần Hưng Đạo Đại vương, còn Mẹ là Tiên chúa Liễu Hạnh.
Tài dụng binh như thần của Hưng
Đạo Vương cũng như đức độ sáng ngời của ngài, là bậc thứ hai trong Tứ
Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam.
Dưới đây là phần trích trang nhà britannica.com có ghi về Hưng Ðạo Vương.
http://www.britannica.com/EBchecked/topic/602242/Tran-Hung-Dao
Tran Hung Dao
born 1229?
died 1300, Van Kiep, Vietnam
original name Tran Quoc Tuan, also called Hung Dao Vuong figure
of almost legendary proportions in Vietnamese history, a brilliant
military strategist who defeated two Mongol invasions and became a
cultural hero among modern Vietnamese.
By the early 1280s the
Vietnamese kingdom faced a growing threat from the Mongols under Kublai
Khan, who had conquered China in the previous decade. When he was
appointed…
Trang nationmaster.com Úc Đại Lợi
đã ghi nhận Đức Hưng Đạo Vương là một tướng lãnh tài ba đã chiến thắng
quân Mông-cổ vào thế kỷ thứ 13. http://www.nationmaster.com/encyclopedia/Tran-Hung-Dao
"Trần Hưng Đạo (陳興道)
(1228-1300) was a Vietnamese Grand Commander-in-Chief during the Trần
Dynasty. Born as Trần Quốc Tuấn (陳國峻), he commanded the Đại Việt (Dai
Viet) armies that repelled two major Mongol invasions in the 13th
century. His multiple victories over the mighty Mongol Yuan Dynasty
under Kublai Khan are considered among the greatest military feats in
world history. General Trần Hưng Đạo's military brilliance and prowess
is reflected in his many treatises on warfare and is a one of the most
accomplished general in history. He's one of a very few generals in
history to have never lost a single battle or war under his command".
* Thanh dã: kế tiêu thổ kháng chiến.
3/ Quang Trung Hoàng Đế Nguyễn Huệ:
I/ Bối Cảnh Xảy Ra Trận Chiến Việt Thanh:
Nguyễn Huệ (阮惠; 1753 – 1792), một danh hiệu khác là Quang Trung Hoàng đế (光中皇帝), vua Quang Trung hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn (trị vì từ năm 1788 tới năm 1792) sau Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc.
Nguyễn Huệ tên thật là Thơm. Nguyên dòng dõi của Hồ Quý Ly: Sách
sử nhà Tây Sơn chép rằng: tổ bốn đời của ông là người huyện Hưng
Nguyễn, trấn Nghệ An. Vào khoảng năm 1653-1657, thời Trịnh Nguyễn phân
tranh, chúa Nguyễn chiếm được bảy huyện trấn Nghệ An, di dân vào Nam.
Tổ bốn đời của ông cũng ở trong số di dân này.
Tổ bốn đời của ông lập nghiệp
tại ấp Tây Sơn, thôn Cựu An thuộc phủ Hoài Nhơn, riêng thân sinh ông là
cụ Hồ Phi Phúc dời ra cư ngụ tại ấp Kiện Thành, huyện Tuy Viễn ( nay
là thôn Phú Lạc, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định). Trong nhà có 3 anh em
trai. Nguyễn Nhạc là anh cả, Nguyễn Lữ là anh thứ và Nguyễn Huệ là em
út. Có lúc Nguyễn Huệ còn đổi tên là Nguyễn Quang Bình.
Thời Chúa Nguyễn Định Vương,
quyền thần Trương Phúc Loan ỷ thế, tham tàn bạo ngược khiến sinh linh
vô cùng ta thán. Năm 1771, từ vùng đất Quy Nhơn, ba anh em Nguyễn Nhạc,
Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ nổi lên lấy Tây Sơn làm căn cứ, chiêu nạp kẻ sĩ
chống lại tham quan khiến người rủ nhau theo về ngày càng đông đảo.
Lấy danh nghĩa diệt trừ kẻ bạo
ngược Trương Phúc Loan, ba ông cùng nhau lập mưu chiếm thành Quy Nhơn
vào năm 1773. Thanh thế của ba ông càng ngày càng lừng lẫy, còn chúa
Nguyễn ngày càng một nhu nhược đi. Do đó Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình
Thuận và tận vùng Gia Định lần lượt lọt vào tay của nhà Tây Sơn một cách
dễ dàng.
Năm 1776, Nguyễn Nhạc xưng
Vương, lấy thành Chà Bàn làm kinh đô, Nguyễn Lữ được phong làm Thiếu
Phó, còn Nguyễn Huệ là Phụ Chính. Năm 1777 (Đinh Dậu) Nguyễn Lữ đem
quân vào Gia Định tiêu diệt hậu duệ của Chúa Nguyễn. Một điều không may
là Nguyễn Phúc Ánh lúc ấy mới 17 tuổi đã nhanh chân tẩu thoát được.
Năm 1778 (Mậu Tuất) Nguyễn Nhạc xưng Thái Đức hoàng đế và phong Nguyễn Huệ làm Long Nhượng tướng quân.
Năm 1784 Nguyễn Phúc Ánh trốn
từ đảo Phú Quốc sang Xiêm La cầu cứu và được vua Xiêm phái 3 vạn quân
kéo sang nước ta. Khi đó ở Quay Nhơn, Nguyễn Huệ hay tin mang quân cấp
tốc vào Gia Định để ngăn chận. Và ông đã đánh tan 3 vạn quân Xiêm ở
Xoài Mút, Rạch Gầm (thuộc tỉnh Định Tường). Còn lại vài ngàn quân rút
chạy hoảng loạn về nước.
Trong khi đó tại Bắc Hà, Trịnh
Sâm phế con trưởng, lập con thứ là Trịnh Cán. Tháng 10/1782 (Nhâm Dần)
Trịnh Sâm băng hà, Trịnh Cán bị lính Tam Phủ đảo chánh và đưa Trịnh
Khải lên ngôi. Ỷ lập công với Chúa Trịnh, lính Tam Phủ hết sức lộng
hành từ trong triều đình cho đến ngoài dân gian khiến dân tình ta thán
vô cùng.
Nhân cơ hội này, Nguyễn Huệ
phái Vũ Văn Nhậm làm tả Đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm hữu Đô đốc, thống
lĩnh thủy lục quân vượt đèo Hải Vân tiến đánh Bắc hà. Và lần lượt các
thành Thuận Hóa, Nam Sơn đều lọt vào tay quân Tây Sơn. Tại thành Nam
Sơn, Nguyễn Huệ ra bố cáo cùng thiên hạ Diệt Trịnh Phù Lê vào năm 1786
(nhằm ngày 24/06 năm Bính Ngọ). Ngày 26/6, Trịnh Khải bỏ thành Thăng
Long chạy trốn nhưng bị dân chúng bắt ở làng Hạ Lôi tỉnh Phúc Yên và
giao nộp cho Nguyễn Huệ. Trên đường giải giao, Trịnh Khải đâm cổ tự tử.
Nguyễn Huệ tiến vào Thăng Long,
phủ dụ dân chúng, quân nhà Tây Sơn kỷ luật nghiêm minh không hề đụng
chạm đến của cải dân chúng. Vua Lê Hiển Tông phong cho ông là Nguyên
Súy Dực Chính Phủ Vận Uy Quốc Công và gả Ngọc Hân công chúa là con gái
thứ 21 của vua.
Vua Lê Hiển Tông băng hà, thái
tử Lê Duy Kỳ nối ngôi lấy hiệu là Chiêu Thống. Nguyễn Huệ thu quân về
Quảng Nam và hữu Đô đốc Nguyễn Hữu Chỉnh được cử ở lại Bắc Hà phụ giúp
vua Lê.
Về đến phương Nam, vua Thái Đức
phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, đóng ở Gia Định; Nguyễn Huệ làm
Bắc Bình Vương đóng ở Quảng Nam. Cùng năm ấy 1787 (Đinh Mùi) Nguyễn Hữu
Chỉnh làm phản ở Bắc Hà, Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhậm ra giải quyết. Lê
Chiêu Thống dẫn cả hoàng gia chạy lên Cao Bằng lánh nạn.
II/ Phá tan 30 vạn quân Thanh:
Sau khi trừ xong Nguyễn Hữu
Chỉnh thì Vũ Văn Nhậm lại sinh ra cao ngạo chuyên quyền. Bắc Bình Vương
Nguyễn Huệ lại thân chinh ra Thăng Long và sau 10 ngày đã giải quyết
được mồng móng chuyên quyền này. Còn Lê Chiêu Thống hoảng sợ chạy sang
Tàu cầu cứu và vua Càn Long phái Tôn Sĩ Nghị đem 30 vạn quân Thanh xâm
lăng nước ta dưới danh nghĩa là phò vua Lê.
Thế giặc như vỡ bờ, tướng Ngô
Văn Sở và Ngô Thời Nhậm tạm thời rút về đèo Tam Điệp (tỉnh Thanh Hóa),
rồi sai người cấp báo về Phú Xuân. Để chính danh trong việc chống giặc,
Nguyễn Huệ đã lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung nhằm ngày 25
tháng 11 năm Mậu Thân (1788).
Ngày 20 tháng 12 năm 1788, toàn
bộ quân lực của Quang Trung hoàng đế đã ra tới đèo Tam Điệp.Tại đây
ngài ra lịnh cho quân lính ăn tết trước 10 ngày đợi đến đêm trừ tịch ra
quân diệt giặc và hẹn ngày mồng 7 tết mở tiệc khao quân. Đúng đêm trừ
tịch quân ta ào ạt Bắc tiến.
Thành Hà Hồi bị quân ta hạ nửa
đêm mồng 3 tết; thành Ngọc Hồi sáng mùng 5 tết. Đây là trận chiến khốc
liệt nhất. Giặc tàu trong thành bắn tên ra như mưa. Vua Quang Trung cởi
voi đốc chiến. Quân Tây Sơn liều chết hàng hàng lớp lớp tiến lên.
Thành vỡ quân ta tràn vào, xác giặc phơi thây ngập đồng, đề đốc Hứa Thế
Thanh (quân Thanh) tử trận, Sầm Nghi Đống treo cổ tự tử. Tôn Sĩ Nghị ở
Thăng long hay tin nửa đêm bỏ chạy bỏ cả ấn tín, quân Thanh nhốn nháo
tìm đường chạy trốn làm sập cầu phao bắc qua sông Nhị Hà rớt xuống sông
chết vô số kể.
Trưa mùng 5 tết Quang Trung
hoàng đế thúc voi vào thành Thăng Long, chiến bào còn nhuộm nùi thuốc
súng cùng quân sĩ mở tiệc ăn mừng. Như vậy chỉ trong vòng 5 ngày ngắn
ngủi quân ta đại phá 30 vạn quân nhà Thanh không còn manh giáp.
Phá xong quân Thanh, một mặt
vua Quang Trung sai sứ sang Tàu ngỏ ý cầu hòa, mặt khác chuẩn bị binh
mã Bắc phạt, lấy lại hai tỉnh Quảng Đông Quảng Tây để mở mang bờ cõi.
Mộng lớn chưa thành nhà vua đã
cởi hạc quy tiên sau cơn bạo bịnh vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý
(1792), hưởng dương được 40 tuổi.
Sau khi Quang Trung hoàng đế
băng hà, Nguyễn Phúc Ánh mượn sức người Pháp chiếm lại lãnh thổ, lên
ngôi vua hiệu là Gia Long. Và đó cũng là nguyên nhân đất nước ta chìm
đắm trong họa thực dân Pháp sau đó một thế kỷ kể từ hòa ước Patenôtre (
hòa ước Giáp Thân) ký vào ngày 6 tháng 6 năm 1884 giữa quan Đại phu
Phạm Thuận Dật và Patenôtre.
Rồi họa cộng sản sau ngày 30/04/1975 cho đến nay.
III/ Phần Kết Luận:
Hằng năm tại chùa Đồng Quang
(Đống Đa) có mở hội gọi là ngày Giỗ Trận Đống Đa. Một phần dân chúng
tại đây muốn kỷ niệm chiến thắng lịch sử của dân tộc, phần khác muốn
siêu độ vong linh của chiến sĩ Tây Sơn và hơn 20 vạn quân Thanh đã tử
trận tại đây vào đầu năm Kỷ Dậu 1789. Đó là lý do tại sao những thế hệ
người Việt Nam sau này gọi là Tết Đống Đa hay Giỗ trận Đống Đa và chữ
Giỗ ở đây cần nên hiểu theo ý nghĩa tích cực chứ không phải là một dịp
kỷ niệm người chết theo ý nghĩa thông thường.
Tích cực đó là phát huy nhân
đức của tiền nhân đã dầy công dựng nước và giữ nước từ đó làm cho đất
nước được thăng hoa hãnh diện ngẩng cao đầu với cộng đồng nhân loại.
Nhưng tiếc rằng thực tế của đất nước Việt Nam sau hơn 200 năm chiến
thắng Đống Đa nghiêng trời lệch đất của Quang Trung Hoàng Đế đã khiến
người dân Việt hậu duệ của ngài phải cúi đầu hổ thẹn.
Sau 20 năm liên tục chinh chiến
và trị quốc, Nguyễn Huệ lâm bệnh và đột ngột qua đời ở tuổi 40. Sau
khi ngài băng hà, nhà Tây Sơn suy yếu nhanh chóng. Những người kế thừa
của Nguyễn Huệ không thể tiếp tục những kế hoạch ông đã đề ra để cai
trị nước Đại Việt, lâm vào mâu thuẫn nội bộ và thất bại trong việc tiếp
tục chống lại kẻ thù của Tây Sơn.
Diệt Tây Sơn, nhà Nguyễn Gia
Long đã thừa hưởng được những thành quả của phong trào Tây Sơn - với
đóng góp to lớn của Nguyễn Huệ - trong việc thống nhất đất nước.
Những cải cách lớn lao của Quang Trung Hoàng Đế :
A/ Thu hút nhân tài:
Trong Chiếu cầu hiền có đoạn:
"Trẫm đang ghé chiếu lắng
nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến.
Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? hay đang thời đổ nát chưa
thể ra phụng sự?... Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có
hàng vạn sự việc nảy sinh Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn - sức một cây
không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình - sức một người không thể đảm
đương".
Các cựu thần nhà Lê trước đây,
tiêu biểu là các tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ,
Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch ... đã ra giúp nhà Tây Sơn. La Sơn Phu
Tử Nguyễn Thiếp sau nhiều lần thoái thác, cuối cùng cũng nhận lời
xuống núi giúp vua Quang Trung.
B/ Giáo dục:
Quang Trung bỏ Hán ngữ như là
ngôn ngữ chính thức trong các văn bản của quốc gia. Ngôn ngữ chính thức
được sử dụng là tiếng Việt và được viết trong các văn kiện hành chính
bằng hệ thống chữ Nôm. Quang Trung quy định các bài hịch, chiếu chỉ
phải soạn bằng chữ Nôm; đề thi viết bằng chữ Nôm, và các sĩ tử phải làm
bài bằng chữ Nôm. Ngài còn chủ trương thay toàn bộ sách học chữ Hán
sang chữ Nôm nên năm 1791 đã cho lập “Sùng chính viện” để dịch kinh
sách từ Hán sang Nôm.
Theo sách Tây Sơn lược thuật, ông chọn một quan văn “5 ngày một lần vào cấm cung để giảng giải kinh sách”. Ngoài ra, vua Quang Trung quan tâm đưa việc học đến tận thôn xã. Trong “Chiếu lập học” ông lệnh cho các xã: “Phải chọn Nho sĩ bản địa có học thức, có hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò”.
C/ Tôn giáo:
Quang Trung có một chính sách
tôn giáo rất tự do và rộng rãi: dù là người đề cao Nho giáo nhưng ông
vẫn bảo đảm hoạt động cho các tôn giáo khác như Phật giáo và các tín
ngưỡng khác. Về Thiên Chúa giáo, các giáo sĩ tự do hoạt động, truyền
đạo, xây dựng nhà thờ. Nhưng đồng thời ông cũng thi hành chính sách bài
trừ mê tín dị đoan rất mạnh, chấn chỉnh lại việc tu hành: nhiều chùa ở
các làng có mà người tu hành lạm dụng để truyền bá mê tín dị đoan bị
đập bỏ để xây duy nhất một ngôi chùa ở huyện cấp trên, đồng thời những
người tu hành không đạo đức, những kẻ lưu manh, lười biếng đều phải
hoàn tục.
Đức Quang Trung Hoàng Đế Nguyễn Huệ là bậc thứ ba trong Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam của một ngàn năm thứ hai.
4/ Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu
Nguyên Thiếu tướng tư lịnh phó
Quân đoàn III - Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - sau khi bị ám sát chết
ngày 08/04/1975 tại văn phòng Tư lịnh phó Quân đoàn, 10/4/1975 ông được
truy thăng Trung Tướng.
Hội Nghiên Cứu Sử Học Việt Nam
tại Âu Châu không thừa nhận sự truy thăng này, nên chúng tôi vẫn gọi
danh xưng trước khi bị ám sát là Thiếu tướng.
Thân phụ của Tướng Hiếu là ông
Nguyễn Văn Hướng sinh ngày 26/9/1903 và Tướng Nguyễn Văn Hiếu sinh
ngày 23/6/1929 tại Thiên Tân, Trung Hoa!
Đến tháng 5 năm 1949 (khi quân
Tầu đỏ của Mao trạch Đông chiếm Hoa lục), Tướng Hiếu hồi hương cùng
thân phụ và theo học Khóa 3 (khóa Trần Hưng Đạo) trường Võ Bị Liên Quân
Đà-Lạt và mãn khóa ngày 1/7/1951.
Ông thông thạo nhiều sinh ngữ quan trọng như Anh, Pháp, Đức và Quan Thoại.
Sau khi tốt nghiệp, được cử về phục vụ tại Phòng 3 Tổng Tham Mưu, Chợ Quán.
Ngày 15/8/1957 với cấp bậc Thiếu Tá, ra làm Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn 1 Bộ Binh ở Huế.
Đi học Khóa Chỉ Huy và Tham mưu Cao cấp ở Ft Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ, và tốt nghiệp ngày 10/5/1963.
1/6/1963 được thăng Trung Tá và làm Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 1 dưới quyền của Đại Tá Nguyễn Cao Trí.
- Sĩ Quan Tham Mưu (7/1953-
Đại tá Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn I 11/11/1963; 12/1963-09/1964; Tham
Mưu Trưởng quân đoàn II 24/10/1964-06/1966)
- Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh (11/1963-12/1963)
- 1/11/1967 được thăng Chuẩn Tướng và ngày 1.11.1968 được thăng Thiếu Tướng.
- Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh (07/9/1964-10/1964; 23/6/1966-8/1969)
- Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh (14/8/1969-6/1971)
- Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 1 (6/1971-2/1972)
- Thứ Trưởng Bài Trừ Tham Nhũng (2/1972-12/1973)
- Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 3 (29/10/1973-08/4/1975)
Ông là một trong những vị
Tướng được thăng cấp cao trong quân đội là nhờ tài năng tham mưu thiên
phú từ cấp cơ bản và từ đơn vị nhỏ đi dần lên.
Tướng Hiếu còn một khả năng
thiên phú quân sự khác đó là phối hợp bộ binh thiết giáp. Phương thức
phối hợp không thua gì tướng George S. Patton của Quân đội Hoa Kỳ trong
thế chiến thứ hai.
Là người có cuộc sống đơn giản
thanh bạch, không khoa trương ồn ào, điềm tĩnh và khiêm nhường trong
bóng tối, đã là một cặp chiến tướng kiệt xuất cùng với Tướng Đỗ Cao Trí
hết sức hiểu ý nhau trong binh ngũ. Cả hai vị Tướng đều tương kính nhau
và đã đưa quân lực Việt Nam Cộng Hòa gặt hái nhiều chiến công vang
dội.
Sở trường của Thiếu Tướng Hiếu
là chiến thuật nhử địch lộ diện để tiêu diệt. Nổi bật là cuộc hành quân
Snoul, 1971 ở Cao Miên. Nhưng chiến thuật dụ địch tuyệt vời này lại
không thành công vì thượng cấp của ông là Tướng Nguyễn Văn Minh thay
đổi ý kiến vào phút chót.
Đại để là cuộc hành quân Toàn
Thắng 02/71 sẽ được tổ chức từ tháng 3/1971 đến tháng 6/1971, Thiếu
Tướng Hiếu dùng Trung Đoàn 8 Bộ Binh của Sư đoàn 5 Bộ Binh nhử địch
trong khu vực Snoul. Nếu Sư Đoàn 5 Bắc Việt chấp nhận giao tranh và
tung các Trung Đoàn 174 và 275 đánh Trung Đoàn 8, Quân Đoàn III sẽ sử
dụng lập tức từ một đến ba sư đoàn bao vây tiêu diệt Sư Đoàn 5 Việt
cộng.
Tướng Đỗ Cao Trí có đề nghị Bộ
tổng tham mưu QLVNCH cử Tướng Hiếu làm tư lịnh Quân đoàn III thay thế
ông, nhưng không được chấp nhận. Và khi ông rời QĐ III nhậm chức Tư
lịnh QĐ I thì tử nạn trực thăng.
Tướng Nguyễn Văn Minh được đề
cử thay thế. Tướng Minh là Tướng văn phòng không phải tướng trận mạc,
nên không mặn mà với kế hoạch dụ địch trước đó. Chiến thuật dụ địch
không thay đổi, chỉ thay đổi ở chỗ dùng B52 diệt địch quân (áp lực của
cố vấn Mỹ) thay vì dùng ba sư đoàn bộ binh để diệt địch. Tướng Hiếu
lưu ý Tướng Minh, rằng dùng B52 rải bom không những giết chết binh sĩ
việt cộng mà còn tàn sát luôn Trung Đoàn 8 VNCH, như vậy cái giá của
chiến thắng là sinh mạng của hàng ngàn chiến sĩ Trung Đoàn 8 Bộ Binh.
Đánh giặc theo kiểu giết người hàng loạt như vậy thì quá dễ, ngây ngô
và vô nhân đạo quá. Chính vì lòng NHÂN đối với binh sĩ dưới quyền mà
Tướng Hiếu đã cưỡng lịnh cấp trên rồi bị trừng phạt.
Các chiến công hiển hách của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu gồm:
- Quyết Thắng 202 (Đỗ Xá), 1964
- Pleime, 1965
- Thần Phong II, 1965
- Liên Kết 66
- Đại Bàng 800, 1967
- Toàn Thắng 46, 5-1970
- Toàn Thắng 8/B/5 , 10-1970
- Toàn Thắng TT02, Snoul 1971
- Svay Riêng, 1974
- Phụ tá đặc trách ủy ban chống tham nhũng, 2-1972-10-1973.
Bài Triệt Thoái Snoul, tác giả là ông Nguyễn Văn Tín, bào đệ của Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu đã ghi như sau:
"Một sự kiện minh họa tài điều binh khiển tướng của anh tôi là cuộc triệt thoái Snoul.
Sau khi liên quân Mỹ Việt xua quân qua Cam-Bốt đánh phá sào huyệt của
Việt Cộng, rồi rút quân về sau 3 tháng tảo thanh, vào cuối tháng 6 năm
1970, đến đầu năm 1971, Trung Đoàn 8 thuộc Sư Đoàn 5 được phái trở lại
Cam-Bốt trấn giữ cứ điểm Snoul. Vào lúc đó, anh tôi làm Tư Lệnh Sư Đoàn
5, dưới quyền Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn III. Anh tôi cùng
Tướng Trí có sẵn kế hoạch dùng Trung Đoàn 8 làm mồi nhử Việt Cộng xuất
đầu lộ diện, với chủ lực quân phòng bị sẵn sẽ được tung vào tham chiến
nếu Việt Cộng mắc mưu kế, tựa như kế Điện Biên Phủ của Pháp hay kế Khe
Sanh của Mỹ, hay nữa tựa như kế anh tôi đã áp dụng hết sức thành công
trong cuộc Hành Quân Đại Bàng 800
khi còn nắm Tư Lệnh Sư Đoàn 22, được Đại Tá Trịnh Tiếu tường thuật lại
trong bài ông viết về "Cố Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu". Chẳng may
tháng 2 năm đó, Tướng Trí bị tử nạn trực thăng và Tướng Nguyễn Văn Minh
được cử thay thế. Đợi cho Tướng Trí tử nạn, Cộng quân mới bắt đầu tấn
công cứ điểm Snoul. Anh tôi trình với Tướng Minh về kế hoạch nguyên
thủy và lưu ý Tướng Minh cần rút Trung Đoàn 8 về ngay nếu không quyết
tâm thực thi kế hoạch đó. Tướng Minh, dưới áp lực của viên cố vấn Mỹ chỉ
lăm le muốn dùng pháo đài bay B-52 dội bom trải thảm tưới lên đầu địch
quân, lừng khừng không chịu tung viện binh vào trận địa nghênh chiến.
Anh tôi nhất quyết không
chịu làm theo ý kiến của cố vấn Mỹ, vì e-ngại binh sĩ mình bị chết lây
bởi sức công phá bừa bãi của bom B-52, khi mà quân địch và quân ta quá
gần nhau. Đến khi tình hình căng thẳng cho thấy Trung Đoàn 8 bị địch
quân vây chặt, chắc chắn không cầm cự nổi nữa thì Tướng Minh phủi tay
nói với anh tôi: "Anh làm gì thì làm đi!"
Tình hình quá gấp rút đến
độ anh tôi phải lấy trực thăng đáp thẳng xuống trung tâm bộ chỉ huy
Trung Đoàn đang khi Cộng quân đã tiến sát tới vòng đai cuối cùng của
đồn binh, hầu đích thân ban hành khẩu lệnh về kế hoạch rút quân, chứ
không còn xử dụng hệ thống điện đài hay điện thoại an toàn được nữa .
Cử chỉ gan dạ của anh tôi đã tạo được lòng vững tin nơi binh lính,
khiến cho cuộc rút quân phá vỡ vòng vây diễn hành trong trật tự và
Trung Đoàn 8 trở về được trọn vẹn, mặc dù Cộng quân đã bố trí đặt các
nút chận suốt dọc lộ trình rút quân từ Snoul về tới Lộc Ninh. Tổn thất
Trung Đoàn phải gánh chịu được coi là khá nặng, mất khoảng một phần ba
quân số, trong đó có Trung Đoàn Phó bị tử thương, khi xe bọc sắt bị
trúng đạn B-40, về đến căn cứ Sư Đoàn mới tắt thở. Anh tôi nói sở dĩ
con số lên cao như vậy là vì viên cố vấn Mỹ chơi xấu trả đũa không chịu
đáp ứng lời yêu cầu của anh tôi cho thả bom B-52 dọc hai bên đường
tháo lui, dọn đường cho việc rút quân. Thái độ cương trực của anh tôi
đối với viên cố vấn Mỹ ỷ thế giàu mạnh muốn tiếm quyền chỉ huy cho thấy
khí phách của một Tướng Việt Nam đặt an toàn của binh lính mình lên
hàng đầu. Người hùng Trung Đoàn Phó bị tử trận là thân phụ của một đứa
học trò tôi. Tình cờ, đang khi tôi tới chia buồn với gia đình đứa học
trò tại nhà trong một xóm bình dân nghèo nàn ở Gò Vấp thì thình lình Tư
Lệnh Sư Đoàn 5, tức anh tôi, cũng đích thân tới phân ưu với gia đình
vị Trung Đoàn Phó của mình.
Phải là tướng cực giỏi mới
có khả năng duy trì trật tự nơi đoàn binh đội tướng trong thế rút quân
dưới lằn đạn vũ bão vây hãm của địch quân. Nếu không cừ thì sẽ gây nên
tình trạng binh lính liệng súng mạnh ai nấy tháo chạy trong hỗn độn
chen lấn đạp lên nhau mà chết, như chúng ta chứng kiến trong những vụ
rút quân ở Hạ Lào, ở Pleiku và ở Đà-Nẵng. Vào lúc Quân Lực Việt Nam ta,
dưới sự điều động của Bộ Tư lệnh Quân Đoàn I, thua trận ở Hạ Lào, tôi
có hỏi anh tôi, lúc đó đang nắm Sư Đoàn 5, sao ta không đưa quân sang
tiếp cứu, anh tôi trả lời: "Có ba sư đoàn dư sẵn đó, nhưng đâu có kế
hoạch sẵn để mà dám tung quân vào!" Hồi đó, tôi có nghe nói, khi tình
thế chiến trường Hạ Lào bắt đầu không ổn vì hai tiểu đoàn Biệt Động
Quân trấn giữ trận địa phía bắc bị Cộng quân đánh bại ngay ở giai đoạn
đầu của chiến dịch Lam Sơn 719, Tổng Thống Thiệu có ý định đưa Tướng
Trí ra nắm Quân Đoàn I, thay thế Tướng Hoàng Xuân Lãm, vì Tướng Trí đã
thành công trong chiến dịch tấn công qua Cam-Bốt. Tướng Trí ra điều
kiện là phải trao cho anh tôi chức Tư Lệnh Quân Đoàn III thay ông thì
ông ta mới chịu đi. Sự việc chưa ngã ngũ thì Tướng Trí, như đã nói ở
phần trên, thình lình bị tử nạn trực thăng, Tướng Minh lên thay thế, và
rồi xảy ra vụ Snoul...
Sau vụ rút quân kể là thành
công này (Trung Đoàn 8 đã không bị xóa tên), anh tôi bị Tướng Minh bỏ
rơi, phải ra Quốc Hội điều trần trong tư thế một tướng mang trọng tội
thất trận. Anh tôi đã thành công trong việc làm sáng tỏ sự thật quân sự
trước các dân biểu, nghị sĩ. Tuy vậy, cũng vẫn bị Tướng Minh, thừa cơ
dùng dịp này củng cố ê-kíp riêng, sa thải cách chức Tư Lệnh Sư Đoàn 5
trả về Bộ Tổng Tham Mưu. Cũng may, anh tôi liền được bổ nhiệm vào chức
vụ Tư Lệnh Phó Quân Đoàn I, dưới quyền Tướng Hoàng Xuân Lãm, một chức
vụ tuy cũng ngồi chơi xơi nước nhưng không nhàm chán bằng một ghế thanh
tra nào đó!
Nguyễn Văn Tín
Nữu Ước tháng 9/1998"
Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu
được Phó tổng thống Trần Văn Hương tín nhiệm đề cử đặc phái điều tra
những vụ án tham nhũng lớn có liên quan đến quân đội, để rồi bị ám sát
ngay tại văn phóng Tư lịnh phó ngày 08/04/1975, đây là một điều đáng
tiếc cho đất nước và tộc Việt.
Là người đã phá nát Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa trong các cuộc rút quân vội vả, không tổ chức từ quân
khu II đến quân khu I và đưa đất nước đến bờ vực thẳm của bại trận,
nên luôn sợ bị đảo chánh. Bởi vì sự lo ngại đảo chánh lớn hơn vận mệnh
quốc gia, đồng thời, một trong những cận thần là Trung tướng Nguyễn Văn
Minh (tư lịnh quân đoàn III năm 1971, tháng 4/1975 là tư lịnh Biệt Khu
thủ đô) dèm pha Tướng Hiếu có mưu đồ đảo chánh.
Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu
phải bị hạ sát, để những người có trách nhiệm trong sự sụp đổ Việt Nam
Cộng Hòa được ra đi an toàn. Người ra lịnh hạ sát Tướng Hiếu, người
luôn lo sợ bị đảo chánh, không ai khác hơn là vị Tổng tư lịnh tối cao
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Tổng thống, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu.
Sự ra đi bất ngờ của Tướng Nguyễn Văn Hiếu đã là mất mát, thiệt thoài lớn lao cho đất nước và quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
Đồng thời để lại cho gia đình,
thân nhân Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu một niềm đau vô bờ bến, không dễ
gì nguôi ngoai được. Là một quân nhân, một tướng lãnh, nếu ông bị thiệt
mạng vì lằn tên mũi đạn của kẻ thù, niềm đau vẫn có nhưng không có sự
uất ức.
Đằng này, sự thiệt mạng của ông
lại do những người cùng chiến tuyến, cấp lãnh đạo sắp xếp, do đó, niềm
đau và sự uất ức khó mà nguôi ngoai cho được.
Chúng tôi, người biên trang sử
này, xin được trân trọng chia xẻ niềm đau khôn cùng đối với gia quyến
của cố Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu.
Và Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu được tôn xưng là bậc thứ tư trong Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam.
Qua sự trình bày bên trên, việc
tôn xưng Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam ngoài lãnh vực quân sự ra,
chúng tôi đã cân nhắc cũng như chọn lựa bốn vị nêu trên là họ tiêu biểu
cho 4 khuynh hướng tâm linh của tộc Việt từ cổ đại cho đến cận hiện
đại.
1/ Phật Hoàng Trần Nhân Tông
người tu theo Phật giáo, là vị Tổ đầu tiên của dòng thiền Trúc Lâm Yên
Tử, một dòng thiền hoàn toàn do người Việt Nam khai sáng.
2/ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tiêu biểu cho khuynh hướng Đạo Nội, một đạo giáo cổ truyền của tộc Việt.
3/ Quang Trung Hoàng Đế Nguyễn Huệ, là người đề cao Nho giáo cởi mở phóng khoáng.
4/ Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu, một tín hữu Công giáo.
Cho dù tâm linh của những vị
nêu trên là Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo hay Công giáo, nhưng suốt cuộc
đời của họ chỉ có hy sinh, cũng như tận tụy phục vụ cho tổ quốc và dân
tộc Việt.
Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt
Nam đã dồn tất cả Tâm và Trí trong việc đuổi thù trong đánh giặc ngoài
hầu mang lại hạnh phúc ấm no và thái bình cho xứ sở.
Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam và cũng là Tứ Vị Thánh Tướng của tộc Việt.
Một ngàn năm trước khi thành
Thăng-Long hình thành, tộc Việt có Tứ Bất Tử; Một ngàn năm sau khi thành
Thăng-Long hiện diện có Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam.