Thiên Niên Sử Thăng-Long ThànhNguồn: http://www.vnmilitaryhistory.info/

Mục Lục:
Tựa
Tựa
Chương I/ Dẫn Nhập:
Chương II/ Tư tưởng tộc Việt thời tối cổ:
Chương III/ Nếp Suy Tư Bình Dân:
Chương IV/ Nếp Suy Tư Bác Học:
Chương V/ Nếp Suy Tư Bác Học - Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà Năm 981:
Chương VI/ Nếp Suy Tư Bác Học - Bài thơ Vận Nước và Bài Thơ Thần:
Chương VII/ Tư Tưởng Bác Học - Sự Khởi Đầu Của Tam Giáo Đồng Nguyên :
Chương VIII/ Tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 15 sau khi thành rồng bay lên được hình thành:
Chương IX/ Tư tưởng Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ 15 đến thế kỷ thứ 17 sau khi thành rồng bay lên được hình thành:
Chương X/ Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam:
Chương XI/ Từ Ngàn Năm Thăng Long 2010 Đến Thỏa Hiệp Việt Trung 2011:
Chương XII/ Hướng Đến Một Nền Đa Giáo Đồng Nguyên, Một Xã Hội Phân Nhiệm:
Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc biên khảo
Chương V/ Nếp Suy Tư Bác Học - Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà Năm 981:
Ảnh hưởng của tư tưởng
thần quyền (thần chú Đà la Ni) và thiền tông đã đưa đến chiến thắng
Bạch Đằng Giang của Ngô Vương Quyền vào năm 938. Và chúng ta cũng đã
thấy rõ nguyên nhân vì sao Bài Thơ Thần đã xuất hiện tiếp theo sau đó.
Năm 981, khi nhà Tống
đang mưu toan xâm lăng nước Ðại Cồ Việt, vua Lê Ðại Hành đã thường
xuyên thỉnh ý Thiền sư Pháp Thuận về vận nước Nam sẽ như thế nào.
Ngài Pháp Thuận đáp rằng:
Vận nước như dây cuốn
Trời Nam mở thái bình
Nhàn nhã nơi cung gấm
Cõi cõi hết đao binh
Ý nói vận nước dài hay
ngắn là tùy thuộc theo lòng dân có đoàn kết hay không, thiền sư Pháp
Thuận đã ví sự đoàn kết này như là bó dây cuộn lại (ngày nay ta dùng
hình ảnh bó đũa), có đoàn kết thì chắc chắn quân dân ta sẽ chiến thắng
giặc ngoại xâm và nước Nam được hưởng thái bình. Nhàn nhã đây ý nói bậc
làm vua hay những người lãnh đạo phải có tài có đức thật sự thì các
nơi mới hết nạn chiến tranh. Một ý nghĩa khác của nhàn nhã là người
lãnh đạo chính trị không xem nặng tổ chức riêng hay dòng họ của mình;
chỉ một lòng phụng sự đất nước và dân tộc.
Vua Lê còn nhờ ngài
Khuông Việt thái sư cầu nguyện đức Tỳ Sa Môn Thiên Vương (là một vị
thần hộ trì ngôi Tam Bảo) tại núi Vệ Linh, ở đền do ngài đã dựng lên,
gia hộ cho quân dân nước Ðại Cồ Việt được chiến thắng quân nhà Tống do
Hầu Nhân Bảo dẫn đầu sang xâm lăng nước ta.
Một hôm vua nằm chiêm bao
và trông thấy hai vị tướng Trương Hạo Trương Hát là danh tướng của
Triệu Việt Vương. Triệu vương bị Nam Ðế đánh bại, nhiều lần ông mời hai
vị tướng này ra cộng tác nhưng họ đều từ chối, cuối cùng đã lấy cái
chết để giữ tròn chữ trung với Triệu Việt Vương. Sau khi hai ông chết
được phong làm thần và thấy nước Nam sắp bị kẻ thù xâm lăng liền thị
hiện để tiếp cứu. Sáng hôm sau vua Lê thuật lại cho mọi người trong
triều được biết, đồng thời lập đàn tràng cung thỉnh và khấn rằng: "Thần nhân có thể giúp ta thành được công nghiệp này thì việc phong thưởng và cúng đơm muôn đời sẽ không hết".
Cũng trong đêm ấy vua lại nằm mơ thấy hai vị ấy hiện về để bái tạ. Một
vị từ phía nam Bình Giang tới, vị khác từ sông Như Nguyệt xuống, cả
hai đều nhắm hướng trại đóng binh của quân Tống mà tiến đánh.
Ngày 23 tháng 10, vào lúc
canh ba, khi trời tối mịt, gió lớn lửa dồn nổ ra, quân Tống tan vỡ.
Thần tàng hình trên không trung, cất tiếng ngâm:
Non sông nước Nam, vua nước Nam ở
Điều ấy đã định rõ trong sách trời.
Nếu như giặc Bắc sang xâm lược,
Thì sẽ bị lưỡi gươm sắc chém tan như chẻ tre (Dịch ý)
nguyên âm
Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !
Quân Tống nghe thế hoảng sợ chen nhau bỏ chạy tứ tán, và quân dân Ðại Cồ Việt đã chiến thắng một cách vẻ vang.
Qua đó cho ta thấy rằng
bài thơ bốn câu được xem là Tuyên Ngôn Ðộc Lập đầu tiên của một nước
Ðại Cồ Việt thực sự tự do đã tuyên bố ngay từ năm 981 khi vua Lê Ðại
Hành chiến thắng quân xâm lăng nhà Tống, chứ không phải năm 1076 khi Lý
Thường Kiệt cùng quân dân Đại Việt đánh bại nhà Tống trên chiến tuyến
Như Nguyệt. Nguồn gốc của bài thơ Thần được ghi trong Lĩnh Nam Chích
Quái của Trần Thế Pháp (biên soạn cuối thế kỷ XIV), Vũ Quỳnh và Kiều
Phú (biên soạn cuối thế kỷ XV) v.v... Ngoài ra còn được Việt sử diễn âm
cũng như Thiên nam ngữ lục diễn đạt lại vào thế kỷ 16 và 17.
Sử gia Ngô Sĩ Liên khi
biên soạn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (gọi tắt là Toàn Thư) gần cuối thế kỷ
15 đã đem bài thơ sông núi (bài thơ thần) trong truyện hai vị thần ở
Long Nhãn, Như Nguyệt (thuộc Lĩnh Nam Chích Quái) vào Toàn Thư và gắn
cho chiến trận trên sông Như Nguyệt năm 1076 do Thái úy Lý Thường Kiệt
chỉ huy. Ngụ ý của ông cho thấy là nhờ bài thơ thần này đã có tác động
rất lớn đến tinh thần chiến đấu của binh sĩ và nhà Lý mới chiến thắng
được quân xâm lược nhà Tống.
Sự thực là nhà Lý cũng
như Thái úy Lý Thường Kiệt đã chuẩn bị cuộc chiến chống quân Tống một
cách cẩn thận và kỹ lưỡng do đó đã tạo nên chiến thắng lẫy lừng bên bờ
sông Như Nguyệt năm 1076 là điều đương nhiên. Tuy nhiên nền tảng của
chiến thắng này đã được xây dựng từ chiến thắng quân Tống năm 981 thời
vua Lê Đại Hành.
Trong tinh thần ôn cố tri tân, chúng tôi đã kính họa Bài Thơ Thần bên trên thành Bài Thơ Sông Núi Nước Nam như sau:
Sông núi nước nam dân Nam ở
Sử sách ghi lại từ ngàn xưa
Nếu Tầu phương Bắc đến xâm phạm
Chắc chắn rồi bây sẽ bại vong
Bài Thơ Thần
nói trên xuất hiện trong bối cảnh của cuộc chiến vệ quốc năm 981 dưới
thời Hoàng đế Lê Đại Hành, chứ không phải của Lý Thường Kiệt tuyên bố
vào năm 1076 như được phổ biến từ bấy lâu nay. Đây là Bản Tuyên
Ngôn Độc Lập đầu tiên và Bình Ngô Đại Cáo là văn bản độc lập thứ hai
của tộc Việt từ hơn 5000 năm dựng nước và giữ nước.