Thân tặng tất cả các chiến hữu Lạc Long,
để ngậm ngùi tưởng nhớ một thời oai hùng lẫn cay đắng.
Lạc Long Huỳnh Quốc Phú.
LỜI NÓI ĐẦU:
Đã ba mươi mấy năm rồi, nỗi hờn di tản tưởng đã phôi phai. Nhưng không, cứ mỗi
“tháng tư đen” về, vết đau lại nứt ra. Chuyện ngày xưa vẫn lảng vảng trong
đầu những người đã từng đóng góp xương máu trong cuộc chiến. Càng già niềm đau
càng âm ỉ. Tôi muốn ghi lại những gì đã xảy ra, nhưng đã bao nhiêu lần
ngồi trước keyboard mà chẳng viết được gì. Đánh được vài ba chữ, cổ họng thấy
mặn đắng.
Cho đến bây giờ, lịch sử đã mở ra: trong khi đồng minh bỏ chạy, súng đạn của
ta cạn dần, bọn VC lại bán nước để lấy thêm vũ khí. Vết đau tuy thuyên giảm
vì có lý do xoa dịu mặc cảm người thua trận, tuy nhiên nó vẫn không lành hẳn.
Đôi lúc tôi lẩm cẩm nghĩ rằng: phải chi quân dân miền nam bán Hoàng Sa và
Trường Sa cho “Đế Quốc Mỹ,” thì kẻ được giải phóng phải là miền bắc chứ không
phải miền nam. Dù sao “Đế Quốc Mỹ” cũng không đến nỗi giết hại ngư dân mình
nếu họ đi lạc vào những hòn đảo này, nghĩ tiếc thay!!!
Mỗi người một câu chuyện, nhưng cùng một niềm đau...
-----
Ngày 10 tháng 3 năm 1975, chỉ trong một đêm, Ban Mê Thuột mất vào tay việt
cộng. Những người lính trấn thủ miền cao nguyên lại phải vất vả đánh đuổi quân
thù để chiếm lại vùng đất đã mất.
Trung Đoàn 44 và 45 thuộc Sư Đoàn 23 bộ binh được di chuyển cấp tốc từ
Pleiku về Ban Mê Thuột để giải cứu bản doanh của họ. Chiến trường tây nguyên
bùng nổ lớn, tuy nhiên, đối với những người lính tác chiến, chuyện đánh giặc là
chuyện xảy ra hàng ngày, suốt bao nhiêu năm trời, chiến tranh có bao giờ ngừng
đâu mà phải hốt hoảng, giặc tới thì ta đánh thế thôi.
Mặt trận Ban Mê Thuột hứa hẹn gay go, những người lính Sư Đoàn 23 và Biệt
Động Quân sẵn sàng tiến vào chiếm lại thành phố này. Nhưng rồi một cái lệnh
quái đản từ Quân Đoàn 2 ban ra: “Pleiku di tản chiến thuật.”
Ô lạ chưa, Pleiku có bị đánh đâu mà phải di tản? Chẳng lẽ chỉ vì một vài
trái đạn pháo kích mà cả một Quân Đoàn lại bỏ chạy?
Cũng vì cái lệnh quái đản đó mà hàng trăm ngàn quân dân nhốn nháo đổ xô về
Qui Nhơn, Tuy Hòa và Nha Trang. Cuộc hành trình đã gây nên bao nỗi đau thương
và uất hận cho mọi người. Chiến tranh quả thật là tàn khốc. Hàng vạn người
tranh nhau để tìm đường sống, đã gây nên bao cảnh tượng tang thương mà lần đầu
tiên trong đời tôi nhìn thấy. Tôi không thể tưởng tượng được mạng người sao lại
rẻ mạt như đám bèo trôi giữa giòng sông!
-----
Cũng như những đơn vị khác của Sư Đoàn 6 Không Quân, Phi Đoàn Trực Thăng 229
của tôi được lệnh di tản về Nha Trang.
Pleiku, thành phố buồn nằm trên cao nguyên, xứ của lính và những người liên
hệ đến lính. “Đi dăm bước trở về chốn cũ", bài thơ được phổ nhạc đã diễn tả
chính xác cái phố núi này. Ngày thuyên chuyển ra đây, tôi cứ tưởng rằng đã đến
một nơi tận cùng bằng số, nhưng không ngờ trong những giây phút cuối cùng tại
đây, từ trên cao độ một ngàn bộ nhìn xuống, một niềm cảm xúc lưu luyến dạt dào
dâng lên mà chính tôi cũng không ngờ nó đã làm mắt mình ươn ướt. Tôi có linh
cảm là sẽ không còn dịp trở về nơi nắng bụi mưa bùn, nơi của những con người vì
chiến tranh gặp nhau ở đây. Một năm qua, chỉ ở đây mới có một năm thôi mà cảm
tình của tôi đối với cái thành phố cao nguyên này đã nẩy nở một cách sâu đậm.
Pleiku thân thương, thành phố mang nhiều kỷ niệm những ngày cuối cùng trong
cuộc đời binh nghiệp của tôi.
Đơn vị của tôi về đến Nha Trang, nhưng vì căn cứ này quá chật hẹp, nên
một tuần sau lại có lệnh di chuyển xuống Phan Rang. Ngày rời Pleiku, tôi đã cố
gắng đem được hầu hết vật dụng về Nha Trang, nhưng ngày rời Nha Trang xuống
Phan Rang tôi đành bỏ lại tất cả những bàn ghế bằng gỗ quý đã tậu được ở
Pleiku. Tiếc lắm, nhưng làm thế nào được, vả lại của cải là vật ngoại thân, bỏ
đi để cho nhẹ gánh, mình còn nhiều việc quan trọng hơn phải lo.
Phan Rang, quê hương của Tổng Thống Thiệu. Một thành phố hiền hòa nằm cạnh
bờ biển. Phi trường Phan Rang rộng lớn. Sau vài ngày sống tạm trong một cư xá
chật hẹp, chúng tôi được cấp phát cho một cư xá khang trang hơn. Sau khi rời
Pleiku, đây là lần đầu tiên chúng tôi có được một chỗ ở riêng biệt, chả bù cho
những ngày còn ở Nha Trang, tất cả nhân viên Phi Đoàn 229 đều sống lăn lóc với
những tiện nghi rất eo hẹp. Mọi người hăm hở sửa soạn chỗ ở và chấp nhận Phan
Rang làm quê hương mới cho mình...
-----
Tình hình chiến sự từ các mặt trận thay đổi nhanh chóng. Những thành phố từ
Quảng Trị trở vào lần lần mất vào tay quân địch. Nói đúng ra là tất cả những
đơn vị chiến đấu đều được lệnh rút lui một cách vội vã trong khi địch quân
chưa tới. Hơn nữa, có nhiều thành phố việt cộng không có ý định tấn công, mình
lại tự động rút lui bỏ ngỏ.
Tôi là một người lính chuyên nghiệp, mặc dù với một cấp bậc nhỏ bé, nhiệm vụ
của tôi chỉ biết thi hành mệnh lệnh chứ không có nhiều thắc mắc. Nhưng vì cứ
lui binh mãi, lòng tự ái của người lính tác chiến bị xúc phạm. Sự tức tối vì cứ
phải lui binh, cộng với những hình ảnh đau thương của người di tản đã nhiều lúc
làm tôi như một người điên. Hôm Đại, người cơ phi của tôi bị thương vì việt
cộng bắn trong lúc đang cứu người di tản, việc này làm tôi không còn bình
tĩnh nữa. Tôi đã xách khẩu súng lục P38 định bắn vào ổ khóa của nhà tắm khi về
đến căn cứ. Nhà tắm này nằm trong cư xá của một số nhân viên cơ hửu đóng tại
Phan Rang. Họ đã khóa cửa nhà tắm lại chỉ vì sợ không còn đủ nước khi đơn vị
của tôi đến chia xẻ. Đứng trước cửa nhà tắm, tôi giận dữ chửi thề:
“ Đ..M. tại sao lại đóng cửa? Có người nào mở ra không?”
Tôi la lớn để mọi người đều nghe. Rất nhiều binh sĩ trong cư xá đó theo dõi
hành động của tôi nhưng tất cả đều im lặng. Tôi tức tối nói lớn hơn:
“ Được rồi, nếu không ai mở ra, thì tôi sẽ mở.”
Quay vào trong cư xá, tôi lấy khẩu súng lục P38 trở ra. Lần này với một
giọng hằn học hơn tôi cảnh cáo:
“ Đ.M có thằng nào chịu mở không?”
Nhiều cặp mắt nhìn tôi chầm chầm, nhưng tất cả vẫn hoàn toàn im lặng. Tôi dí
họng súng vào ngay ổ khóa định bóp cò, thì thình lình có người vội vã lên
tiếng:
“ Anh đừng có bắn, để tôi mở, tại mấy thằng kia nó khóa lại đó.”
Thế rồi anh này vội vã mở cửa nhà tắm ra sau khi đổ thừa là tại một vài
người nào đó ích kỷ khóa lại. Lúc đó, tôi thật sự rất cần những gầu nước thật
lạnh để gột rửa những tức tối trong lòng mình. Di tản, chết chóc, khổ đau, đói
khát.v.v...và sau cùng là đồng đội của tôi đã đổ máu, tôi đã không còn là tôi
nữa...
-----
Sau Pleiku, Ban Mê Thuột, rồi đến Quân Đoàn 1 vội vã rút lui. Bây giờ cái lệnh
di tản chiến thuật quái đản này thật sự gây hoang mang cho cả mọi người. Làn
sóng người hớt hải xuôi nam như một bệnh dịch lan truyền nhanh chóng. Dân và
quân không còn niềm tin vào lệnh lạc nữa. Theo tôi nghĩ, mọi người chỉ sợ mình
là kẻ bị bỏ rơi, chứ không hẳn là sợ đánh với việt cộng.
Tôi cứ tưởng là lệnh sẽ cho dừng lại tại đây để đánh một trận sống chết với
quân thù, nhưng rồi, Qui Nhơn lại được lệnh di tản! Để rồi kể từ đó, Khánh
Dương, Tuy Hòa, Nha Trang sụp đổ theo làn sóng người bỏ chạy, trong khi đó Bảo
Lộc lại bị áp lực nặng nề và Đà Lạt không còn quân bảo vệ. Tất cả mọi người đều
lo di tản về Sài Gòn. Lòng quân và dân hoàn toàn rối loạn. Tin chiến sự
thay đổi từng giờ từng phút, ai cũng lo lắng cho gia đình bị bỏ rơi. Phi
trường Phan Rang chỉ còn lại những quân nhân thật sự cần thiết để tác chiến.
Tất cả gia đình binh sĩ và những phần sở không trực tiếp chiến đấu đều di tản
về Sài Gòn. Chiến tranh đã thật sự hiện ra rõ ràng nơi tôi vừa định cư mà thoạt
đầu tôi cứ tưởng sẽ là quê hương lâu dài của đơn vị.
Trong một đêm của những ngày cuối cùng tại Phan Rang, tôi đã thao thức và
hồi hộp suốt đêm. Tôi sợ rằng, đến sáng hôm sau Đà Lạt sẽ bị mất. Tôi sợ gia
đình chị tôi và mấy đứa em đang sống tại thành phố này phải chịu cảnh lầm than
như những người di tản trên liên tỉnh lộ 7. Tôi không theo đạo Chúa hay Phật,
nhưng tôi đã cám ơn Chúa Phật rất nhiều vì đến ngày hôm sau, Đà Lạt vẫn chưa
lọt vào tay việt cộng. Nhờ chuyến bay của một đơn vị bạn, tôi lên Đà Lạt
ngày hôm đó, với ý định: đuổi gia đình bà chị về Sài Gòn bằng mọi giá. Tôi sợ
rằng bà chị của tôi không chịu đi vì tiếc rẻ cái tài sản to lớn mà vợ chồng bà
khổ công tạo dựng. Tôi sợ lắm vì cảnh đau thương của những người di tản đã hằn
sâu vào đầu tôi trong mấy tuần qua. Càng sợ hơn nữa, trước đó vài ngày, lợi
dụng một phi vụ lấy tàu từ Nha Trang về Phan Rang, tôi đã lén bay lên Đà Lạt và
đáp trên nóc nhà bà chị để báo tin di tản. Cứ tưởng rằng bà chị của tôi
hiểu được sự khẩn cấp mà về Sài Gòn, nhưng không ngờ mấy ngày sau,
tôi được tin cả gia đình bà ấy vẫn còn ở tại Đà Lạt, chẳng ai đi đâu hết...
Vừa xuống phi trường Cam Ly, tôi tức tốc đến ngay nhà bà chị với quyết
định: nếu chị ấy tiếc rẻ cái gì thì tôi sẽ rút súng bắn bỏ cái đó. May mắn
thay, ngày hôm đó cũng là ngày bà ấy rời Đà Lạt. Còn lại một người em gái, tôi
định đem em về Phan Rang để tìm phương tiện di chuyển, nhưng khi ra đến
phi trường Cam Ly, gặp một chuyến C-130 chở người di tản, tôi đã gửi
em về thẳng Sài Gòn. Nhìn chiếc C-130 nặng nề cất cánh mang theo người em
của mình, tâm tư tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Nhẹ gánh lo gia đình, tôi yên tâm trở
về Phan Rang và tự nhủ rằng, dù có phải tử thủ đến giờ phút cuối cùng, tôi cũng
không sợ.
Sau cùng, việc đáp phi cơ trên nóc nhà bà chị, đã làm cho chị tôi gặp
nhiều rắc rối sau khi việt cộng lên nắm chính quyền. Thật ra tôi cũng không
muốn làm vậy, nhưng đâu còn cách nào khác, bởi vì tình hình lúc đó rất hỗn
loạn, phương tiện truyền thông rất giới hạn, trong khi chiến sự lại thay đổi
từng giờ từng phút !
-----
Rồi thì việc phải đến đã đến, sau khi Khánh Dương mất vào tay việt cộng, Nha
Trang bỏ ngỏ, bây giờ Phan Rang là tiền đồn của cuộc chiến. Trung Tướng Nguyễn
Vĩnh Nghi được cử ra từ Sài Gòn cùng Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang Tư Lệnh Sư Đoàn
6 Không Quân là hai người chỉ huy bộ tư lệnh tiền phương chống giữ Phan Rang.
Thành phần chống giữ phi trường Phan Rang gồm có Địa Phương Quân, Sư Đoàn 2
Bộ Binh, Biệt Động Quân. Nhưng thành phần chủ lực thật sự chỉ có Lữ Đoàn 2 Nhảy
Dù. Những đơn vị khác chỉ là những đơn vị được tập họp lại một cách vội vã sau
khi di tản từ những nơi khác về.
Không khí chiến tranh càng lúc càng nặng nề. Mọi người chỉ mong rằng mình có
thể giữ vững phi trường Phan Rang hầu cản bước tiến của địch quân. Những tin
đồn như là: “Ông Thiệu sẽ không bỏ quê hương của ông ta” đã được nhiều người
nhắc nhở hầu lấy đó làm niềm tin để sống chết với quân thù.

