Lời Giới Thiệu của KB NguySaigon :
Tuý Ngoạ Sa Trường Quân Mạc Tiếu
Cổ Lai Chinh Chiến Kỹ Nhân Hồi
(Lương Châu Từ – Vương Hàn)
Những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Thiết Đoàn 5 KB và SĐ 18 BB đã đánh một
trận để đời tại Xuân Lộc, Long Khánh. Trận chiến là một trong những trận
chiến hào hùng nhất của QLVNCH. Trận đánh làm nức lòng và được toàn dân ngưỡng
mộ. Qua ngòi bút tài hoa của Đại Uý Vũ Đình Lưu, Chi Đoàn Trưởng CD 2/5 Thiết
Kỵ, cho chúng ta thấy sự chiến đấu dũng mãnh, sự hy sinh mà không bút mức nào
diễn tả được trong một trận đánh mà sự chênh lệch về quân số tham chiến và vũ
khí quá lớn. Trận chiến cô đơn nhưng hào hùng tại Long Khánh đã “khép lại” tạm
thời Chiến sử QLVNCH .
Một hình ảnh đẹp nhất và uy nghiêm là hình ảnh toàn thể Kỵ Binh CD 2/5 TK đã
đứng nghiêm chào kính để đưa tiển những đồng đội về nơi an nghỉ cuối cùng khi
đã làm tròn nhiệm vụ của người trai trong cơn binh lửa
Xin trân trọng giới thiệu Bút ký chiến trường: Quốc lộ 20, Hành Lang Của Tử
Thần, tác giả Đại Uý KB Vũ Đình Lưu cùng Quý độc giả , Quý Chiến Hữu và những
Kỵ Binh can trường để nhớ lại một thời chinh chiến điêu linh.
Thiết Giáp Tại Mặt Trận Tây Bắc Xuân Lộc, Tháng 4/1975
Bút Ký Chiến Trường
:::Kỵ Binh Vũ Ðình Lưu:::
(Chi đoàn trưởng Chi Ðoàn 2/5 Thiết Kỵ)
Sau khi chiếm Tây nguyên, đại binh Cộng Sản Bắc
Việt (CSBV) gồm hàng chục sư đoàn Bộ Binh có chiến xa và trọng pháo yểm trợ đã
lần lượt chiếm các tỉnh miền Trung và tiếp đến Phan Rang, Phan Thiết, Bình Tuy,
Lâm Ðồng cũng rơi vào tay chúng
Cuối tháng 3 năm 1975, Quận Ðịnh Quán thuộc Tiểu Khu Long Khánh bị tràn ngập
bởi Sư Ðoàn 341 CSBV. Lực Lượng Ðặc Nhiệm 52 (LLÐN 52) được thành lập, án ngữ
tại xã Túc Trưng (trên quốc lộ 20 cách ngã ba Dầu Giây 25 km về hướng Bắc), để ngăn chận bước tiến của địch gồm
các đơn vị trực thuộc Sư Ðoàn 18 Bộ Binh như sau:
* Trung Ðoàn 52 Bộ Binh (Ðại Tá Ngô Kỳ Dũng chỉ huy, cũng là chiến đoàn
trưởng), với 3 tiểu đoàn:
- Tiểu đoàn 1/52 (Thiếu Tá Cam Phú, tiểu đoàn trưởng)
- Tiểu đoàn 2/52 (Ðại Úy Huỳnh Văn Út, tiểu đoàn trưởng)
- Tiểu đoàn 3/52 (Thiếu Tá Phan Tấn Mỹ, tiểu đoàn trưởng)
* Thiết đoàn 5 kỵ binh (Trung Tá Trần Văn Nô, thiết đoàn trưởng)
- Chi đoàn 1/5 chiến xa (Ðại Úy Lê Ðức Việt, chi đoàn trưởng)
- Chi đoàn 2/5 thiết kỵ (Ðại Úy Vũ Ðình Lưu, chi đoàn trưởng)
- Chi đoàn 3/5 thiết kỵ (Ðại Úy Lê Sơn, chi đoàn trưởng)
* Tiểu Ðoàn 182 Pháo Binh
* Lực lượng tăng phái: Công binh và đơn vị hỏa tiễn TOW
* Ðịa Phương Quân: một tiểu đoàn và Nghĩa Quân thuộc Tiểu Khu Long Khánh
Lực Lượng Ðặc Nhiệm 52 được thành lập nhằm ngăn chặn đại binh CSBV đang tiến
công dữ dội về hướng Nam (Biên Hòa, Saigon). Chiến trường khốc liệt máu lửa
chính của những ngày tháng 4 là địa danh ngã ba Dầu Giây, cũng là giao điểm của
quốc lộ 1 và quốc lộ 20 cách thị xã Xuân Lộc 12 km về hướng Tây.
Vùng Túc Trưng, Kiệm Tân Gia Kiệm là vùng đất đỏ miền Ðông trù phú, với vườn
cao su bạt ngàn và ruộng rẫy xanh tươi. Cư dân phân nữa là công nhân cạo mủ cho
đồn điền cao su và xen kẽ là nhũng rẫy cà phê xanh tươi bát ngát, những vườn
sầu riêng, chôm chôm, xoài và các loại trái cây khác của nông dân bản địa. Họ
là những người miền Bắc di cư năm 1954. Sau bao năm dài thanh bình thịnh vượng
của miền Nam tự do, nay lại phải tức tưởi gồng gánh lánh nạn cộng
sản một lần nữa. Trước mắt tôi, dài theo QL 20 xuôi về hướng Biên Hòa Sài Gòn
cả dòng người chạy giặc bằng mọi phương tiện từ thô sơ đến cơ giới. Chiếc xe
gắn máy hai bánh phải chở đến 4, 5 người nheo nhóc trẻ con. Chiếc xe lam cong
cả nhíp với bao người đu bám xung quanh. Xe bò, xe trâu, xe thồ tấp nập di
chuyển về một chiều. Tất cả cùng một hướng xuôi Nam, nơi họ tin tưởng rằng còn là phần đất tự do được bảo
vệ, che chở bởi người lính Việt Nam Cộng Hòa. Trên tất cả mọi khuôn mặt từ
những ông bà già đến đứa trẻ con đều lộ vẻ hốt hoảng, nặng trĩu lo âu không
biết chuyện gì sẽ xảy ra cho gia đình họ trong những ngày sắp tới.
Ðêm 3 tháng 4 năm 1975, trời vừa tối, một trung đoàn của Sư Ðoàn 341 CSBV tấn
công vào đồn Ðịa Phương Quân ở cầu La Ngà thuộc Chi khu Ðịnh Quán, tỉnh Long
Khánh. Lực lượng trú phòng một tiểu đoàn trừ bị và một chi đội Thiết Vận Xa
M113 (thuộc CÐ 2/5 TK) bảo vệ cầu La Ngà (cầu La Ngà nằm trên quốc lộ 20 cách
ngã ba Dầu Giây 29 km về hướng Bắc). Chúng pháo kích ác liệt suốt đêm và
sau đó là tấn công biển người. Rạng sáng ngày 4 tháng 4, Thiếu Úy Nho – chi đội
trưởng M113 Thiết Kỵ – báo cáo cho tôi (chi đoàn trưởng Chi Ðoàn 2/5 thiết kỵ):
“2 xe M113 bị bắn cháy, đồn Ðịa Phương Quân bị tràn ngập, địch đang cận kề.” Tôi
ra lệnh cho Th/úy Nho dùng hết hỏa lực chống trả và rút lui bằng đường rừng
theo cánh rừng chồi xuôi về phía Túc Trưng nơi có quân bạn. Chi đội này có 4 xe
113 thì 2 xe bị bắn cháy, 2 xe bất khiển dụng vì bị bắn đứt xích. Th/úy Nho
cũng đã dụ địch bằng hai M113 bất khiển dụng. Ông lệnh cho anh em binh sĩ dùng
dây thun cột mỏ vịt 2 trái lựu đạn rồi rút chốt bỏ vào thùng xăng, một lúc sau
hai chiếc M113 cháy nổ dữ dội. Hơn nửa giờ, Chi Ðoàn 2/5 Thiết Kỵ đã đến bắt
tay với chi đội và một trung đội Ðịa Phương Quân trở về Túc Trưng. Riêng phần
chi đội thiệt hại 4 xe M113 và 5 hy sinh và bị thương.
Ngày 5 tháng 4, 1975, địch bao vây thị xã Xuân Lộc. Thiết Ðoàn 5 Kỵ Binh được
lịnh rút về Long Khánh để tăng cường phòng thủ Xuân Lộc. Chỉ còn Chi Ðoàn 2/5
Thiết Kỵ và 1 chi đội chiến xa M41 của Chi Ðoàn 1/5 CX ở lại tiếp tục tăng phái
cho LLÐN 52.
Cầu La Ngà đã bị chiếm, áp lực của địch rất nặng nề với khoảng cách chỉ còn 9 km từ cầu La Ngà đến Túc Trưng nên ngày 8 tháng 4, 1975
Lực Lượng Ðặc Nhiệm 52 lui binh về hướng Nam lập căn cứ dã chiến tại ấp Nguyễn
Thái Học, nằm trên QL 20 cách ngã ba Dầu Giây 4km về hướng Bắc. Ðây là một ấp
nhỏ, chung quanh là vườn cao su bạt ngàn. Dân cư phần lớn là phu cạo mủ của đồn
điền, một số nhỏ là nông dân làm các rẫy cây ăn trái ven lộ. Hầu hết dân chúng
đã di tản khỏi ấp khi thấy chiến trận đã cận kề.
Ngày 9 tháng 4, 1975, Quân Ðoàn 4 của CSBV bắt đầu mở cuộc tấn công vào thị xã
Xuân Lộc với cường độ khốc liệt tiền pháo hậu xung.
Ngày 11 tháng 4, 1975, Tiểu Ðoàn 2/52 tăng cường bảo vệ Xuân Lộc. Thời điểm
này, LLÐN52 chỉ còn 2 tiểu đoàn Bộ Binh, Chi Ðoàn 2/5 Thiết Kỵ 1, chi đội chiến
xa M41, Ðại Ðội 52 Trinh Sát, Tiểu Ðoàn Pháo Binh 182, Công Binh và đơn vị hỏa
tiễn TOW; đối diện với Sư Ðoàn 341 CSBV tăng cường chiến xa và pháo tầm xa.
Ngày 12 tháng 4, Chi Ðoàn 2/5 và một đại đội của Tiểu Ðoàn 1/52 (trừ bị) hành
quân mở rộng phòng tuyến an ninh xuống ngã ba Dầu Giây. Chi đoàn băng qua vườn
cao su di chuyển lên hướng Ðông (Long Khánh) dọc theo phía Nam quốc lộ 1 cạnh khu nhà Tây (ấp Trần Hưng Ðạo, dân địa
phương còn gọi là ấp 97, cách ngã ba Dầu Giây 4km). Bất ngờ đụng phải một lực
lượng CSBV phòng thủ kiên cố, cuộc giao tranh cực kỳ quyết liệt. Sau hơn nửa
giờ, một Thiết Vận Xa M113 của Thiếu Úy Sơn bị bắn cháy, Thiếu Úy Sơn thoát thân
ra ngoài với thân thể bốc lửa. Phía Nam của đội hình chi đoàn xe của Thiếu Úy Chiến cũng
trúng đạn, Thiếu Úy Chiến và Binh Nhất Thành hy sinh. Tuy vậy, kỵ mã sắt vẫn
còn khả năng tác chiến dưới sự điều động của Trung Sĩ Hiếu, một hạ sĩ quan hành
quân dày dạn kinh nghiệm mặc dù đã bị thương, vừa bắn trả vừa lui lại phía sau.
Sau nhiều giờ giằng co, chi đoàn lùi về hướng ngã ba Dầu Giây và bố trí phòng
thủ đêm trong rừng cao su tại đây. Một đêm không thể chợp mắt được vì phía xa,
hàng trăm ánh đèn soi sáng chập chờn. Tôi bảo thiếu úy tiền sát viên pháo binh
xin pháo. Khi tiếng “depart” pháo thì ánh sáng đèn tắt ngấm, sau loạt pháo
chúng lại tiếp tục soi đèn. Tôi bồn chồn đi vội lại xem tình hình anh em hy
sinh và bị thương. Tổng kết ngày hôm đó, chi đoàn 3 hy sinh, 3 bị thương. Bên
phía Bộ Binh 2 hy sinh và 4 bị thương nằm rải rác trong các xe. Quỳ xuống gốc
cây cao su, tôi làm dấu Thánh Giá và cầu nguyện cho linh hồn các anh sớm về
chốn bình yên vĩnh hằng. Các anh đã trả nợ nước non, tôi cầu xin các anh che
chở cho những người còn lại thoát khỏi cơn hiểm nguy còn chập chùng trước mặt.
Vĩnh biệt các anh với đôi mắt ngấn lệ. Nhưng đêm đó địch không đánh, có thể vì
chưa biết chính xác vị trí của chúng tôi.
Ngày 13 tháng 4, 1975, lực lượng chúng tôi lại lùi về hướng căn cứ Bộ Chỉ Huy
Chiến Ðoàn LLÐN ở ấp Nguyễn Thái Học và tái bố trí phòng thủ trong rừng cao su
cách Căn cứ 1.5 km, cạnh QL 20. Ðến trưa, chúng tôi lại hứng pháo, CSBV
pháo từng chập, đạn nổ khắp nơi, xung quanh, trên đầu, những cành lá cao su và
miểng đạn bay tung tóe. Hạ sĩ Thảo, Hiệu thính viên Truyền Tin đã ngã gục trên
người tôi, máu anh đã nhuộm đỏ bộ quân phục màu xanh của tôi. Sau tiền pháo là
hậu xung, chúng ồ ạt tấn công. Với địa hình đã chuẩn bị sẵn sàng, Thiết Giáp bố
trí vòng tròn, Bộ Binh đào hầm sâu xen kẽ, chúng tôi sẵn sàng chờ địch tới.
Cường độ trận đánh thật ác liệt, địch ẩn núp sau các gốc cây cao su to, hết lớp
này đến lớp khác bò tới, Thiết Giáp bắn đỏ nòng các khẩu đại liên 50 và 30.
Khói súng không thoát khỏi các tàng cao su dày đặc, mờ mờ như màn sương. Hơn 1
giờ giao tranh, với lòng quả cảm và kinh nghiệm chiến đấu Kỵ Binh và Bộ Binh đã
đẩy lùi được địch. CSBV rút lui với tổn thất nặng nề. Xác địch nằm rải rác
trong vườn cao su từ gần đến xa, đếm không xuể. Bộ Binh lao lên thu chiến lợi
phẩm gom thành một đống cao đủ loại vũ khí. Tinh thần mọi binh sĩ cả Thiết Giáp
và Bộ Binh lên cao, hăng hái sau nhiều ngày lui binh từ chết đến bị thương. Số
vũ khí tịch thu được tôi cho 1 chiến xa M41 cán nát vì có giữ cũng vô ích, cần
chỗ trong xe để chở thêm đạn dược, xăng dầu, lương khô sẵn sàng cho những ngày
sắp tới.
Trinh sát báo về, địch quân chỉ còn cách căn cứ không đầy 2km. Tôi gọi 18 (danh
hiệu truyền tin của Ðại Tá Ngô Kỳ Dũng) xin chi đoàn về bố trí phòng thủ ở Bộ
Chỉ Huy Chiến Ðoàn (LLÐN 52) để tải thương và tiếp tế. Chúng tôi về và bố trí
các xe thành một vòng cung rìa ấp Nguyễn Thái Học, giữa các xe là Bộ Binh của
Ðại Ðội 52 Trinh Sát. Công việc xong lúc 6 giờ tối.
Ðêm đó, 13 tháng 4, ngã ba Dầu Giây được phòng thủ bởi Tiểu Ðoàn1/52 Trừ Bị, Sư
Ðoàn 6 CSBV tràn ngập. Mất ngã ba Dầu Giây, toàn bộ lực lượng Ðặc Nhiệm 52 còn
lại như cá nằm trên thớt, tứ bề thọ địch. Trên QL20 địch đã tiếp cận đơn vị
chúng tôi. Phía Nam trên QL1, địch đã chiếm ấp Trần Hưng Ðạo và giao
tranh với chúng tôi trọn ngày hôm qua. Ðêm nay lại mất Dầu Giây nữa. Tình hình
mặt trận chắc còn tệ hơn lực lượng Pháp đóng tại Ðiện Biên Phủ vào năm 1954.

