*Tác Phẩm TIẾNG HỜN CHÂN MÂY, Ấn phí: 15 Mỹ Kim.
*Liên lạc để có sách với chữ ký của tác giả qua Email: tranthyvan@yahoo.com hoặc điện thoại số: (714) 375-9547
TIẾNG HỜN CHÂN MÂY
Truyện dài In lần đầu: 7/2000
Tái bản lần thứ nhất: 11/2006
Bìa: Họa sĩ Hồ Thành Đức
Kỹ thuật & trình bày: Tác giả
Copyright 2000 by Tran Thy Van
TX 5-195-589
All Rights Reserved Printed in USA
THƯ TƯ - NGÂN PHIẾU - XIN ĐỀ:
TRẦN THY VÂN
P.O.BOX 2085
WESTMINSTER, CALIFORNIA 92648 - USA
LỜI NÓI ĐẦU
Tiếp theo truyện dài Anh Hùng
Bạt Mạng, in 1996, rất thu hút người đọc, đã tái bản nhiều lần trong
thập niên qua; Tiếng Hờn Chân Mây cũng được viết lại từ hồi ký của tác
giả về thời chinh chiến Việt Nam. Để sáng tỏ một phần sử liệu, kỳ tái
bản này, THCM có thêm ghi chú, tiêu biểu một số báo chí, các nhà văn
phê bình tác phẩm, ở cuối sách. Bối cảnh, sự kiện, và các nhân vật
trong truyện đều có thật. Sự trùng tên chỉ là ngẫu nhiên với người
ngoại cuộc. Tác giả.
Thương tặng HN Lê Hoa
Giữa lúc đất nước khởi đầu đen tối nhất
em về làm vợ người lính bại trận Trần Thy Vân.
CHƯƠNG MỘT CHUYẾN ĐI VỀ SÁNG
Hết hy vọng, tình thế không
thể đảo ngược được nữa. Vỏn vẹn năm ngày giằng co, thoi thóp, cuối tháng
3/1975 toàn bộ Quân đoàn I, năm tỉnh địa đầu cùng các vùng phụ cận, đã
rã ngũ, lần lượt rơi vào tay giặc, rồi tiếp theo cả miền Nam thân yêu
sụp đổ, bao mạch sống muốn ngưng hẳn, 30/4/1975.
Những kẻ chiến thắng mặt sát
khí, ăn mặc hổ lốn, tràn lan khắp nơi, tìm bắt các sĩ quan, viên chức
Việt Nam Cộng Hòa còn lẩn trốn, không đầu thú. Mặt khác, chúng vét hết
xe cộ, kho tàng, hàng hóa buôn bán tư nhân đem về Bắc, sào huyệt của
chúng. Các bất động sản, nào nhà to, đất rộng... của dân cũng bị tịch
thu, chiếm cứ. Cộng quân còn giở trò ve vãn vợ con những ai đã phục vụ
dưới chế độ cũ, với ý đồ tống tiền, tống tình, phá bỏ cả đạo đức, ly
tán mọi gia đình người Nam.
Như lịch sử đã ghi, xưa một ngàn năm giặc Tàu, một trăm năm giặc Tây, nay giặc Hồ phương bắc, Mác-Lê bạo quyền.
Trước các nguy cơ dồn dập, chắc
tôi phải đi, rời khỏi Đà Nẵng càng sớm càng tốt. Tôi sẽ đến một nơi
thật xa lạ, ở đâu tôi có thể ẩn náu được khoảng đời còn lại nửa phần
thân thể của người lính bại trận.
Để thực hiện ý định, sáng sớm
hôm nay khi tiếng gà còn eo óc của một ngày hoang tàn đầu tháng 5/1975,
tôi lẻn vào thăm Quang Châu lần cuối cùng. Quang Châu, quê tôi, một
ngôi làng xưa cũ, thuộc huyện Hòa Vang, Quảng Nam, phía tây nam thành
phố Đà Nẵng 10 cây số, nơi tôi với hai người chị Trần thị Thông và Trần
thị Minh ra đời. Chị Thông thì đã chết từ lâu, năm 16 tuổi.
Tôi phải ghé nhà chị Miên
(Minh) trước. Chị lấy chồng ở Miếu Bông, một thôn cùng xã, kế cận với
Quang Châu. Tôi sẽ nói rõ là tôi đã quyết định biệt xứ, không bao giờ
trở lại.
Chiếc Honda ba bánh của tôi
vừa rẽ vào con đường ngoằn ngoèo giữa hai hàng tre quen thuộc, tôi bắt
đầu lo ngại. Khi nghe chuyện buồn tôi phải ra đi trong lúc tình hình
bất ổn đủ thứ thế này, vì tình chị em chắc chắn Miên sẽ ngăn cản. Tính
chị thật thà, thực tế, ít quan tâm đến thời cuộc, chỉ lam lũ làm ăn từ
ngày lập gia đình. Cha mẹ và các anh chị lớn đã chết, chỉ còn tôi với
Miên cùng chung máu mủ, nay chia tay biết bao giờ gặp lại, chị không
buồn sao được.
Tôi dừng xe trước hiên và bỏ
chiếc xe lăn tay xuống đất. Thấy Miên thấp thoáng nhà dưới nhìn ra, tôi
lăn vào, vừa tới cửa, khác với thường lệ, tôi không chào hỏi chị mà
nói ngay:
- Mai em đi sớm!
Đang lui cui bên bếp lửa, chị day mặt qua hỏi:
- Đi đâu?
- Cao nguyên Lâm Đồng!
Miên trố mắt:
- Làm chi?
- Làm ăn.
- Cậu nói đùa hay thật vậy?
Tôi vừa lấy gói thuốc trong
túi áo ra đốt một điếu hút vừa nghiêm nghị trả
lời:
- Tình thế khiến chết tới nơi, em còn đùa sao?
Miên lắc đầu:
- Cậu suy xét kỹ lưỡng chưa?
Tiền bạc không có, phần thì cụt hai chân, bệnh viện mới về, ốm yếu,
cậu đòi lên xứ núi xứ thượng, không thân nhân họ hàng, lấy chi sống?
Miên xót ruột, nêu dẫn một số
yếu điểm của bản thân tôi, để mong tôi bỏ ý định thực hiện chuyến đi
chẳng mấy sáng sủa. Nhìn quanh trong nhà không một bóng người nào khác,
tôi dằn cơn xúc động nói cho hả dạ:
- Trời sinh voi thì phải sinh
cỏ. Thà đói chết xứ người còn hơn sống nhục nơi mà mình đã bao năm
chiến đấu để bảo vệ, nay tất cả đã rơi vào tay giặc, em không thể nhìn
mãi kẻ thù rừng rú nhởn nhơ đầy phố. Chị đâu biết, hầu hết các sĩ quan,
viên chức chính quyền cũ -Việt Nam Cộng Hòa- đều bị bắt. Vả lại, em đã
quen với đời sống quân đội rồi. Đói no, gian khổ là chuyện thường.
- Cậu nói tôi tưởng cậu đang đọc một quyển tiểu thuyết tình cảm xã hội. Quân đội đâu nữa để quen đói, quen no.
Miên giằn từng tiếng. Chẳng
hiểu sao hôm nay chị lại hằn học, hay chị giận cá chém thớt? Mấy năm
trước, ông anh rể tôi khi còn trong quân đội, vì xa nhà đã sinh tật có
vợ bé nên gia đình thường lục đục... Thấy thái độ của Miên có khác lạ
khiến tôi đoán mò, chứ lẽ nào chị nhập nhằng chuyện chồng ngoại tình với
con đường sinh tử của em mình. Dẫu sao tôi cũng cố thuyết phục chị:
- Nghe đồn có khóa học "cải
tạo tư tưởng" 15 ngày tại chỗ sẽ mở nơi trường Trung Học Nguyễn Trường
Tộ, kế Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I cũ, bọn Việt Cộng, qua cái gọi là Ủy Ban
Quân Quản thành phố Đà Nẵng, dành cho các phế binh Việt Nam Cộng Hòa
cùng đám đầu trộm đuôi cướp, xì ke ma tuý. Nếu tham dự em sẽ bị lộ
diện, tụi nằm vùng, đón gió trở cờ, tố cáo công trạng chiến đấu, kẻ thù
ắt phải lưu đày em biệt xứ, hay đem chôn sống không chừng. Ai mà tin
nổi cái chính sách nói là khoan hồng tất cả như chúng đang rêu rao
tuyên truyền trên các đài phát thanh. Chính sách nào dưới chế đô. Cộng
Sản cũng bắt nguồn từ bản chất phi nhân, gian trá của tập đoàn Marxist.
Chúng đã buộc tội em phản
quốc, chẳng hiểu quốc nào, là theo quân đội Quốc Gia. Họ sẽ giao cho
các phần tử lưu manh, "cách mạng 30", địa phương quản lý, bám sát theo
dõi, ngay miếng ăn cái mặc, đi đứng thảy đều bị dòm ngó, coi mình như
người tù. Trường hợp em dễ gì được chúng tha, kẻ thù sẽ bằm nát thây
thôi! Cộng Sản là vậy, chị chưa biết saỏ...
Tôi nói lung tung, toàn chuyện
ghê gớm, mà thật sự đang xảy ra và còn tái diễn dài dài, để chị hiểu
vì nguy cơ tôi phải dứt khoát lẩn trốn. Sáng sớm ngày mai tôi phải lìa
quê hương, nơi tôi đã hơn một lần đẵm máu, bỏ lại đôi chân trên chiến
trường bão lửa.
Miên xách ấm nước chè lá khô,
thoảng mùi gừng, rót tôi một ly. Sau một năm nằm nhà thương, nay tôi về
thăm, trông chị quá gầy guộc. Chỉ hơn tôi hai tuổi, mà khuôn mặt chị
như trên một giáp, đầy nếp nhăn nheo khắc khổ, nụ cười dịu hiền của
những ngày xưa cũng thiếu vắng. Từ lúc người mẹ yêu dấu, dòng dõi hoàng
phái, hẳn đã không chịu nổi cảnh cơ cực ở miền quê hẻo lánh Quang Châu,
phải quảy gói ra đi bỏ hai chị em tôi phải rày đây mai đó mãi theo cha
tìm mẹ. Từ thuở lên ba đã thiếu mẹ, tôi sống bám vào tình thương của
Miên, người chị duy nhất...
Chắc vì tình ruột thịt, dầu
tôi có tràng giang đại hải, diễn giải hết bao nguy cơ sắp ập đến, chị
vẫn phớt tỉnh, còn hầm hừ ngăn cản:
- Theo tôi, đi xa chi cho khổ.
Cậu chỉ đoán vậy thôi, chứ đâu chắc chắn người ta hại cậu. Cứ dự 15
ngày để yên thân. Đài phát thanh loan tin mấy ông sĩ quan, cả tướng
lãnh nữa, cũng học một tháng, họ trình diện hết rồi...
Không lẽ trái với ý nghĩ của
tôi, Miên lại ghét bỏ, đẩy tôi lún sâu vào con đường ô nhục của người
bại trận. Lối lý luận của chị làm tôi cay cú:
- Chị nói vậy sao?
Miên ráng gân cổ:
- Không phải à?
- Nghĩ sao mà bảo em đút đầu
vô đó học? Học cái gì nơi những kẻ ngu dốt, hèn hạ ấy? Chị chẳng hiểu
gì về cái thâm độc của Cộng Sản. "Cải tạo tư tưởng", ghê không? Một bọn
lộng ngôn!

