Ngày 28 tháng giêng, Hưng
Đạo Vương tâu với nhà vua xin cho Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải
chận đánh cánh quân của Toa Đô ở Nghệ An (cánh quân này được lịnh từ
Chiêm Thành, tiến chiếm các châu lộ phía Nam của ta, rồi Bắc tiến, phối
hợp với đạo quân của Thoát Hoan làm thành thế gọng kềm tiêu diệt quân
đội nhà Trần).
Ngày 1 tháng 2, con thứ của
Tỉnh Quốc Đại Vương Quốc Khang là thượng vị Chương Hiến Trần Kiện (Trần
Kiện vốn có hiềm khích với hoàng tử Đức Việp. Khi giặc Nguyên xâm
lăng, Kiện được lịnh trấn giữ Thanh Hóa) và thuộc hạ thân tín là Lê Tắc
(hay Trắc) ra đầu hàng quân Nguyên. Toa Đô sai quân lính đưa đám hàng
binh này về Yên kinh (thủ phủ của nhà Nguyên). Dọc đường bị các vị tù
trưởng ở Lạng Giang (tức Lạng Sơn ngày nay) là Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn
Lĩnh tập kích trại Ma Lục (ở Chi Lăng thuộc châu Lạng Giang thời đó,
nay là tỉnh Lạng Sơn). Vị tướng của Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô bắn
tên giết được Trần Kiện. Lê Tắc phải đưa xác Kiện lên ngựa, chạy trốn
trong đêm, được vài chục dặm tới Khâu Ôn và chôn tại đó.
Quân Toa Đô từ Chiêm Thành
kéo về, cướp bóc ở dọc đường, trèo non xuống dốc ở khoảng châu Ô, châu
Lý, châu Hoan, châu Ái, nay về trấn đóng ở Tây Kết.
Các vị Chiêu Thành Vương
(khuyết danh), Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái
được lịnh của Đức Hoàng đế Trần đem các binh sĩ tinh nhuệ vây đánh quân
giặc ở bến Tây-Kết (ở ven sông Hồng, khoảng thôn Đông Kết, xã Đông
Bình, huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng. Ngày nay, thôn này cách sông
Hồng 3 cây số, đất bãi (tức bãi Mạn-Trù, nay thuộc xã Tân Châu), nhưng
xưa kia sông kề thôn).
Thừa thắng xông lên sau khi
đã chiếm được bến Tây-Kết, các vị Chiêu Thành Vương (khuyết danh),
Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản, tướng quân
Nguyễn Khoái đã thẳng đường tiến đánh Hàm Tử Quan (cửa Hàm Tử: ở bãi
Hàm Tử, huyện Động Yên tỉnh Hưng Yên).
Như vậy là suốt trong tháng 4
sau khi lịnh tổng phản công được ban hành thì quân dân Đại Việt đã tái
chiếm lại các cứ điểm đã bị mất trước đây. Đó là A-Lỗ, Tây-Kết, Hàm Tử
Quan và nó đã mở rộng cửa cho đường về giải phóng Thăng Long.
Trận phản công diễn ra tại
cứ điểm A-Lỗ hay Hải-Thị do Hưng Đạo Vương chỉ huy. Đây là một trận
đánh lớn không kém phần gay go quyết liệt. Quân nhà Trần đã tấn công hai
hướng An-Lỗ và Giang-Khẩu. Ở tại Giang-Khẩu dưới sự chỉ huy của Trung
Thành Vương đã kịch chiến với tướng nhà Nguyên là Thiên Hộ Mã Vinh.
Binh sĩ Nguyên bị quân ta sát hại rất nhiều phải tháo lui. Sau đó hai
cánh quân thủy bộ của nhà Trần đã tập trung toàn bộ lực lượng đánh vào
đại doanh của chúng. Đại doanh đây chính là kinh thành Thăng Long. Mặc
dù quân giặc cố gắng chống trả, quân ta thiệt hại không ít, nhưng nhờ
chiến lược «đánh cầm chừng» trước đây nên ta đã bảo toàn được
lực lượng do đó ta có đủ lực lượng để bủa vây quân địch đến mấy lớp và
viện quân được điều đến liên tục để dứt điểm chiến trường quan trọng
này. Quân Mông-cổ vì bị vây hãm nhiều ngày, người ngựa thiệt hại, lương
thực thiếu thốn, khí giới mất mát, không có viện binh cũng chẳng có khí
cụ thay thế nên chúng buộc phải rút bỏ thành Thăng Long. Trận đánh từ
A-Lỗ qua Giang-Khẩu đến Thăng Long ắt hẳn phải kéo dài đến cả tháng
trời từ đầu tháng 4 cho đến thượng tuần tháng 5 mới hoàn tất.
Trong chiến dịch tổng phản công tái chiếm kinh thành Thăng-Long quân đội nhà Trần được tổ chức làm hai cánh quân:
Cánh quân thứ nhất do Thượng
tướng Trần Quang Khải cùng chư vị tướng lãnh như Hoài Văn Hầu Trần
Quốc Toản, Trần thông, Nguyễn Khả Lạp và Nguyễn Truyền thống lãnh quân
lính rầm rộ tiến về Thăng-Long sau chiến thắng Chương Dương Tử;
Cánh quân thứ hai do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung cầm đầu.
Ngày 15 tháng 3 năm Ất Dậu (1285) Thăng Long đã sạch bóng quân thù.
Ngày Ất Dậu,
28 tháng 10, năm Đinh Hợi (1287) quân Mông-cổ xâm lăng nước ta lần thứ
ba, khi quân của Thoát Hoan đến huyện La-Tân. Ô Mã Nhi cùng Phàn Tiếp
dẫn theo 18 ngàn người; các tướng Ô-Vị, Trương Ngọc và Lưu-Khuê cùng 3
vạn quân, 500 chiến thuyền, 70 thuyền vận tải lương thực khởi hành từ
Khâm Châu. Như vậy, đạo quân xâm lăng của Thoát Hoan tấn công vào nước
ta được ghi nhận thành ba hướng.
Thoát Hoa sau khi chiếm được
Thăng Long, nhưng cũng như lần trước hắn không dám lấy đó làm đại bản
doanh, mà vẫn xử dụng căn cứ Vạn Kiếp như là một tổng hành dinh điều
khiển mọi hoạt động xâm lược nước ta. Hắn đang nóng lòng mong đợi thuyền
lương tiếp viện từ bên Tàu sang, nhưng đâu biết rằng đoàn thuyền chở
lương thực của Trương Văn Hổ đã bị Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đánh
tan ở Vân Đồn. Túng thế chúng quyết định lui binh.
Dự đoán được sự lui binh
của giặc, vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã chuẩn
bị rất kỹ lưỡng thế trận trên sông Bạch Đằng để tiêu diệt đoàn quân
xâm lược.
Hưng Đạo Vương đã cùng với
Hai Vua đánh tan toàn bộ quân Nguyên trên sông Bạch Đằng năm 1288. Đây
là một chiến tích lẫy lừng thiên niên kỷ.
Ông còn là tác giả bộ Binh Thư Yếu
Lược (hay Binh Gia Diệu Lý Yếu Lược) và Vạn Kiếp Tông Bí Truyền Thư
(đã thất lạc). Ngài được dân Việt tôn sùng như bậc thánh, nên gọi là Đức
Thánh Trần. Ngài còn được tín ngưỡng là một trong những vị thánh của
dòng Đạo Nội là một Đạo giáo dân tộc.
Trong dân gian có câu
Tháng tám giỗ cha
Tháng ba giỗ mẹ.
Cha đây là Đức thánh Trần Hưng Đạo Đại vương, còn Mẹ là Tiên chúa Liễu Hạnh.
Tài dụng binh như thần của
Hưng Đạo Vương cũng như đức độ sáng ngời của ngài, là bậc đứng thứ hai
trong Tứ Đại Thiên Tài Quân Sự Việt Nam.

