
*Nguồn gốc của dân Việt bắt nguồn
từ phía Nam sông Dương Tử (nước Việt cũ, miền Nam nước Tàu
hiện nay) và hiện diện đến nay đã 4882 năm lịch sử.
Vào những năm trước
Tây lịch, nước ta đã có cung cách hành văn khác biệt với
ngôn ngữ phương Bắc. Thể hiện qua bài Ca Việt được trình
bày chi tiết trong quyển Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam xuất
bản vào năm 1999. Nhắc tới Ca Việt thì không thể nào không
nhắc tới bộ Luật Việt, là bộ Luật được sử dụng từ thời
Hùng Vương cho đến khi cuộc chiến đấu của Hai Bà Trưng thất bại vào
năm 43 sau Tây lịch. Sau khi Mã Viện chiếm lĩnh toàn cõi nước
ta, y đã so sánh và thấy bộ Luật Việt hơn hẳn 10 điều bộ
Luật Hán của nước Tàu, do đó dã tâm biến dân Việt thành
dân Tàu càng gia tăng hơn bằng mọi hình thức. Như cải tổ
Luật Việt, bắt bớ giam cầm hàng trăm Lạc Hầu Lạc Tướng,
bắt buộc dân ta phải ăn mặc sinh sống như người Tàu v.v...
Đất nước Việt bị rơi
vào nô lệ đã đặt những người yêu nước trước một hoàn cảnh
cấp bách cần phải thích ứng ngay. Đó là phải có một phương
pháp chống giặc vừa hữu hiệu về mặt vật chất cũng như
nâng cao khí thế về phần tinh thần để duy trì tiềm lực dân
tộc chờ đợi thời cơ thích hợp khởi nghĩa quét sạch quân xâm
lược Trung Hoa. Trong giờ phút tưởng chừng như tuyệt vọng khi Hai Bà
Trưng thất bại và phải trầm mình xuống dòng Hát giang, một
trong các nữ tướng của Hai Bà là Bát Nàn công chúa bị
thương đã rút về một ngôi chùa xã Tiên La đồng thời qua
đời tại đây. Và người nữ tướng cuối cùng này đã cùng với
một số các nhà sư Phật giáo tìm cách ứng dụng vai trò của
đạo Phật vào việc bảo vệ dân tộc chống lại chính sách Hán hóa dã
man do Mã Viện áp đặt, trong bối cảnh đó Lục Độ Tập Kinh được ra
đời.
Lục Độ Tập Kinh là
một tập kinh được viết bằng tiếng Việt, đến ngày nay các
nhà nghiên cứu vẫn chưa truy tìm được danh tánh tác giả;
quyển kinh này đã được bồ tát Khương Tăng Hội dịch sang
tiếng Tàu vào khoảng thế kỷ thứ 3 tức khoảng bốn năm sau
khi ngài sang nước Ngô năm 247 (do Ngô Tôn Quyền cai trị) truyền
bá Phật giáo Việt Nam. Nội dung của nó bao gồm sáu hạnh nguyện
của Bồ tát và những câu truyện Phật giáo được lưu truyền
từ thời Hùng Vương cùng những tư tưởng Việt tộc. Những
hạnh nguyện này đã được tổ tiên ta trình bày dưới cái nhìn
của người Việt, qua đó cho ta thấy một sự tổng hợp tuyệt
vời giữa tư tưởng Phật Giáo và tư tưởng Việt tộc thời Hùng
Vương, tạo nên một Ý Thức Dân Tộc rõ ràng nhất để đề kháng ngoại
xâm.
Chữ Nhân trong Lục Độ Tập Kinh được nhấn mạnh ‘Ta
thà bỏ mạng sống một đời chứ không bỏ chí lớn, quên mình
để yên ổn quần sanh, đó là lòng NHÂN bao trùm trời đất vậy‘.
Tư tưởng Lợi Lạc Quần Sanh Vị Tha Vô Ngã này không thể nào tìm
thấy trong tư tưởng Ấn Độ cũng như Trung Hoa cho được, nó
xuất phát từ những người dân Việt có tấm lòng vô cùng
thiết tha với đất nước và dân tộc khi thấy xứ sở đang rên
siết dưới sự chiếm đóng của ngoại bang, chỉ có những tấm
lòng nung nấu lý tưởng bồ tát cứu dân cứu đời giữa cơn lửa
dữ mới có thể bộc lộ lên được như vậy mà thôi. Đây là lời hiệu triệu
hùng hồn kêu gọi toàn dân vùng lên đấu tranh chống lại giặc
Tàu xâm lược lấy lại Sơn Hà Xã Tắc nước Nam.
Tập Kinh còn đề cao Hạnh và Nguyện cho người dân Việt. Về Hạnh ‘Thà bỏ mình để giữ hạnh giữ giới‘.
Sau thời Hai Bà Trưng, người dân Việt được hướng dẫn một
cách sống mới để thích hợp với hoàn cảnh bị đô hộ, đó là
cách sống cương quyết giữ gìn phong tục, tập quán cũng như
tư tưởng, văn hóa Việt tộc, khẳng khái chối bỏ nền Hán
hóa xâm lược, chẳng những vậy, dân ta còn tìm cách thuyết
phục dân Tàu sống theo chữ Hạnh của người nước Nam, qua đó nhằm tháo
bỏ dần dần sự kềm kẹp của bộ máy đàn áp Trung Hoa. Người Việt
không những tiến hành đấu tranh vũ trang không thôi, mà
còn chủ trương đấu tranh chính trị thu phục nhân tâm ngay
chính hàng ngũ của kẻ thù, đây là một hành động vô cùng
khôn ngoan mà vào thời bấy giờ ít có dân tộc nào có thể
thực hiện được. Cụ thể là 60 năm sau, theo thầy Lê Mạnh Thát,
người Việt đã làm cuộc khởi nghĩa đầu tiên là Tượng Lâm làm sụp-đổ
hệ thống cai trị của người Tàu; Về Nguyện thì đề cao tinh
thần ‘Bồ tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ, xông mình vào
nơi chính trị hà khắc để cứu dân khỏi nạn lầm than‘. Tinh
thần này nhằm kêu gọi mọi người can đảm lao vào cuộc
chiến đấu chống kẻ thù chung với tinh thần Bồ Tát Đạo, là
tinh thần xã bỏ thân mạng để cứu hộ dân chúng và đất nước khỏi
nạn lầm than. Đây chính là Khuôn Vàng Thước Ngọc cũng như một trong
những điểm mấu chốt hình thành Ý Thức Dân Tộc trong một
bối cảnh hoàn toàn mới, bối cảnh đất nước bị giặc chiếm
đóng, đồng thời làm điểm tựa cho sự đề kháng của dân ta
chống ngoại xâm Trung Hoa hàng mấy thế kỷ, và tinh thần
này vẫn còn tiếp tục tồn tại cho đến tận ngày hôm nay.
Vào những năm đầu sau
Tây lịch cho đến khoảng thế kỷ thứ 5 Niềm Tin tôn giáo
lồng trong Ý Thức Dân Tộc và đã được xử dụng để đối kháng
lại sự Hán hóa dã man của thế lực xâm lược Tàu cũng như
khuyến khích sự quật khởi dân tộc. Các nhà sư Phật giáo đã
đưa ra và cho lưu truyền tư tưởng Phật giáo thần quyền.
Nghĩa là sự mong ước có được những vị Phật thật, bằng xương bằng thịt
của Việt Nam. Những vị Phật này có đầy đủ phép thần thông
biến hóa để trợ lực dân ta vùng lên đánh đuổi kẻ thù lấy
lại xứ sở. Và tư tưởng này đã thành công. Trong những thế
kỷ đầu tiên người Tàu đã không yên ổn khai thác tài nguyên
nhân vật lực của xứ Việt, chúng phải vất vả đối phó với
những cuộc khởi nghĩa kéo dài cho đến lúc Lý Nam Đế thành
công vào khoảng thế kỷ thứ 5. Từ khoảng thế kỷ thứ 5 trở về sau tư tưởng
Phật giáo Thiền tông đã dần dần thay thế PG thần quyền
qua việc xuất hiện 6 lá thư của Lý Miễu Giao Giâu cũng như
các dòng thiền Vô Ngôn Thông, Tỳ Ni Đa Lưu Chi và sau này
là dòng thiền Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập đã
là những thí dụ điển hình. Tư tưởng PG Thiền tông chủ
trương là trở lại khai thác sức mạnh của chính tâm linh của mình.
Qua sự thay đổi này đã gởi gấm tâm tư của dân tộc là tự mình
đứng lên giải quyết vấn nạn của đất nước mà không phải nhờ
vả ai cả. Tiền nhân nước Nam đã thành công với chiến
thắng Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền vào năm 938.
** Nước Việt chúng ta
từ hơn 2000 năm trước Tây lịch đã có khoảng không gian
địa lý bắt nguồn từ hồ Động Đình – núi Lĩnh Nam kéo dài
cho đến đồng bằng sông Hồng Bắc Việt. Trải qua nhiều sự
thay đổi của lịch sử, nước ta đã mang các Quốc hiệu như
Văn Lang, Âu Lạc, Đại Cồ Việt, Việt Nam, và cũng tại nơi này
đã là trung tâm giao tiếp của 2 nền văn minh cổ nhất Á châu. Đó là
Trung Hoa và Ấn Độ. Trung Hoa từ phía Bắc xuống, Ấn Độ từ
phương Nam lên. Vì vậy có lúc nước ta đã có quốc hiệu là
Giao Châu.
Văn hóa Trung hoa có
học thuyết Khổng Tử và Lão Tử. Khổng Tử chú trọng các hình
thức, khuôn khổ thế gian tức chủ trương CÓ; Lão Tử thiên
về xa lánh cỏi đời tìm sự tĩnh mịch, cho rằng thế gian này
chẳng có gì đáng luyến tiếc nên bảo là KHÔNG. Văn hóa của
Ấn Độ thì có Phật giáo. Phật giáo chủ trương vượt ngoài
CÓ và KHÔNG, tìm sự giải thoát ngay chính tâm hồn của mỗi người.
Tuy nhiên trước khi
hai nền văn hóa Ấn Hoa truyền vào thì Việt Nam đã có sẳn
một nền văn hóa lâu đời. Nền văn hóa hay văn minh đó là
Đông Sơn và Lạch Trường. Tựu trung hai nền văn minh này
thể hiện qua việc thờ cúng tổ tiên, các vị anh hùng vị
quốc vong thân; tôn kính các hiện tượng thiên nhiên như mưa, gió,
sấm sét, vì dân ta cho rằng mỗi hiện tượng như vậy đều có một vị
thần chủ trì; các loại truyện cổ tích đều có những ý
nghĩa sâu xa v.v…Tất cả những điểm vừa nêu đã góp phần tạo
nên nền văn hóa, văn minh và cao hơn là Tư Tưởng riêng
biệt của nước Việt Nam chúng ta thời bấy giờ. Khi tiếp
nhận các nền văn hóa Ấn Hoa thì dân tộc ta đã dung hóa nó trở
thành nền văn hóa dân tộc thật sự. Sự dung hóa của 3 nền văn hóa
Việt-Ấn-Hoa đã tạo cho nước Việt một phong thái khác hẳn
đối với các nước chung quanh, chính sự tổng hợp đó ta gọi
là Tâm Thức Việt. Tâm Thức Việt này được un đúc thành Tam
Giáo Đồng Nguyên và phổ biến rộng rải vào thời nhà Lý đồng
thời truyền thừa cho đến tận ngày hôm nay.
Do đó những điều
trình bày ở trên, là một người Phật tử Việt Nam, thiết
nghĩ lập luận cho rằng Phật Giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng
sâu đậm bởi Phật giáo Trung quốc là một điều không có căn
bản vững vàng.
Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo, Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính