Từ ngàn xưa, ải Nam Quan là của tộc
Bách Việt xây dựng, bảo vệ. Xương máu của tổ tiên đã đỗ xuống để giữ
gìn từng tấc đất, ngọn rau, từng khoảng rừng, bờ biển cho đến đỉnh núi
cao v.v... nơi đâu trên đất nước Việt Nam cũng còn bàng bạc anh linh
của tổ tiên Bách Việt từ hơn 5000 lịch sử lưu truyền.
Một trong những địa
điểm chứng kiến tinh thần quật cường bất khuất chống ngoại xâm phương
Bắc của dân tộc chúng ta, cũng như những đau thương mất mát chính là ải
Nam Quan hay cửa Nam Quan. Tức là cánh cửa đi vào đất nước ở phương
Nam. Nam Quan còn có thể được giải thích là người phương Nam cần phải
đề phòng quan sát người phương Bắc để bảo vệ đất nước cho có hiệu quả.
Đấy chính là sự phân biệt rất rõ ràng giữa Nam phương và Bắc phương.
Những sự kiện lịch sử sau đây đã kết nối ải Nam Quan với tộc Bách Việt là một:
- Năm 981, vua nhà
Tống là Tống Thái Tông (tức Triệu Khuông Nghĩa) sai Hầu Nhân Bảo tấn
công Đại Cồ Việt qua đường Lạng Sơn, đi qua ải Nam Quan.
- Năm 1077, Tống
thần Tông sai Quách Quỳ tấn công nước Đại Cồ Việt, quân Tống theo đường
Nam Quan, xuống ài Quyết Lý rồi đến ải Chi Lăng. Quân Tống đã bị Hoàng
đế Lê Đại Hành đánh tan tác, Hầu Nhân Bảo bị tử trận.
- Các năm 1284,
1287 Vua Hốt Tất Liệt của nhà Nguyên sai thái tử Thoát Hoan mang 50 vạn
quân tấn công Đại Việt, qua ải Pha Lũy (tức ải Nam Quan). Quân Nguyên
đã bị Hoàng đế Trần Nhân Tông cùng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đánh
tan tác, khiến Thoát Hoan phải chui ống đồng qua ải Pha Lũy mà về Tầu.
- Năm 1774, Đốc trấn Lạng Sơn là Nguyễn Trọng Đang cho trùng tu Ngưỡng Đức Đài, nằm về phía nam của Trấn Nam Quan.
- Năm 1788, vua Lê
Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh xâm lăng Đại Việt. Vua Càn Long cử Tôn
Sĩ Nghị mang 30 vạn quân tấn công nước ta. Quân tiến vào qua ba ngã:
Tôn Sĩ Nghị cùng Hứa Thế Hanh vào cửa Nam Quan qua Lạng Sơn đi xuống;
Sầm Nghi Đống tiến quân bằng đường Cao Bằng; đề đốc Vân Nam là Ô Đại
Kinh bằng đường Tuyên Quang. Quang Trung Hoàng đế đã đánh tan 30 vạn
quân Thanh trong mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789.
- Năm 1885 xảy ra trận chiến Pháp - Thanh tại trấn Nam Quan và Lạng Sơn.
- Ngày 26/06/1887,
bản Công ước Về Hoạch Định Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung quốc được
ký kết. Ngày 21/04/1891 hai bên Pháp - Thanh tiến hành cắm cột mốc tại
vùng biên giới gần ải Nam Quan.
- Năm 1907, Bác sĩ Tôn Dật Tiên và Hoàng Hưng phát động khởi nghĩa tại Trấn Nam Quan chống nhà Mãn Thanh, nhưng bị thất bại.
- Năm 1957, Chính
phủ tỉnh Quảng Tây đã chi tiền trùng tu lại thành lầu Hữu Nghị quan,
trở thành một kiến trúc ba tầng như hiện nay.
- Từ ngày 17 tháng 2
năm 1979, trong chiến tranh biên giới Việt-Trung, Tầu cộng tung 200
ngàn quân tấn công Việt Nam. Sáu tỉnh biên giới bị tấn công đó là: Lai
Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Quân Tầu cộng
đã chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng và Lạng Sơn. Lính Tầu cộng
vào thị xã Lào Cai bằng thung lũng sông Hồng; thị xã Cao Bằng theo
thung lũng sông Bằng; và vào thị xã Lạng Sơn theo thung lũng sông Kỳ
Cùng qua ải Nam Quan.
- Ngày 30 tháng 12
năm 1999, tại Hà nội, hai ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm của Việt cộng và
Đường Gia Triền của Tầu cộng chính thức ký ‘Hiệp ước biên giới trên
đất liền’, theo đó ải Nam Quan (tức Hữu nghị quan) thuộc về nước Tầu.
Bản hiệp ước này được quốc hội Trung quốc thông qua ngày 29 tháng 4 năm
2000, và quốc hội Việt cộng thông qua ngày 9 tháng 6 cùng năm, và việc
cắm mốc biên giới được tiến hành từ năm 2001 đến cuối năm 2008 là
xong.
Từ cuối năm
1999, nhà văn Dương Thu-Hương trong bài phỏng-vấn của đài Phát-thanh
RFI đã cảnh báo rằng sau trận chiến-tranh biên-giới Việt-Trung năm
1979, các nhà lãnh-đạo đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhường cho Tầu cộng
nhiều phần đất-đai dọc biên-giới hai nước với chiều dài khoảng 1.300 km
và nhiều nơi còn bị lấn sâu vào nội-địa Việt Nam khoảng 3 cây-số.
Chính nhà văn Dương Thu Hương là người đầu tiên cảnh báo dư luận về việc Việt cộng đã nhường mất ải Nam Quan cho Tầu cộng.
Qua những sự kiện nêu trên, ải Nam
Quan đã hiện diện và tồn tại hơn 1000 năm qua (chứ không phải mới từ
thời vua Gia Tĩnh nhà Minh) đồng thời đã mang nhiều tên gọi khác nhau.
Từ Úng Kê Quan, Kê
Lăng Quan, Giới Thủ Quan, Pha Lũy Quan, Trấn Nam Quan, Mục Nam Quan
(1953-1964), và Hữu Nghị Quan: từ năm 1965 cho đến nay. Cho dù ngày nay
ải Nam Quan hay Hữu nghị quan đã bị Việt cộng bí mật nhượng cho Tầu
cộng, nhưng mãi mãi ải Nam Quan vẫn còn trong tâm khảm của người Việt
chúng ta "Nước Việt Nam chúng ta chạy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau".
Hy vọng một ngày
nào đó, khi điều kiện cho phép, tộc Bách Việt sẽ lấy lại những phần
đất, vùng biển, và hải đảo mà ngày nay Việt cộng đã bí mật nhượng bán
cho Tầu cộng.

Bản đồ Đại Cồ Việt chống quân Nam Hán năm 938, ải Nam Quan thuộc tỉnh Lạng Sơn vốn đã thuộc quyền cai quản của nước ta. Và mũi
tên nhỏ ghi dấu ải Nam Quan tỉnh Lạng Sơn nơi mà năm 981, quân Tống
của Hầu Nhân Bảo xâm nhập Đại Cồ Việt đã bị Hoàng đế Lê Đại Hành đánh
bại.

Bản đồ nhà Trần chống quân Mông Cổ năm 1285, quân Thoát Hoan xâm nhập Đại Việt qua ải Pha Lũy (ải Nam Quan) rồi vào Lạng Sơn đến ải Chi Lăng

Bản đồ do Nha Địa Dư Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa ấn hành năm 1956
và hiệu đính xuất bản lần thứ 6 năm 1972 vẫn còn ghi ải Nam Quan (hình 1)



Hình 2 ghi dấu ải Nam Quan, bản đồ tỷ lệ xích : 1:2.000.000
Hội Nghiên Cứu
Sử Học Việt Nam tại Âu Châu ( danh xưng cũ là Nhóm Nghiên Cứu
Lịch Sử Việt Nam và Tinh Thần Trúc Lâm Yên Tử tại Âu Châu) trân trọng
giới thiệu đến quý thân hữu, độc giả trong và ngoài nước hai bài viết
liên quan đến ải Nam Quan.
1/ Chứng Minh Lịch Sử Ải Nam Quan Là Của Việt Nam, tác giả Trịnh Quốc Thiên
2/ Ải Nam Quan Trong Lịch Sử, tác giả Mai Thái Lĩnh
Hội Nghiên Cứu
Sử Học Việt Nam tại Âu Châu hoạt động độc
lập (nhưng hoà đồng với cộng đồng đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân
quyền Việt Nam) với chủ trương biên khảo và phổ biến lịch sử Việt Nam
trong tinh thần khách quan, trung thực và khoa học.
Chân thành cảm ơn
quý thân hữu và độc giả đã ủng hộ tinh thần cho chúng tôi trong thời
gian qua, mong rằng sự ủng hộ này sẽ được tiếp nối trong thời gian tới.
Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc
---------
Vở kịch bi hùng :
HẬN NAM QUAN
Phi Khanh:
Đây Nam Quan, chốn biên thùy lạnh lẻo!
Hồn thuở xưa lay động bóng chinh kỳ.
Ai đi sứ nơi quê người lẻo đẻo,
Cỏ hoa rừng dâng lệ khóc phân ly.
Đây Nam Quan những u hồn thấp thoàng,
Đứng đầu non trông rỏi bóng quê hương.
Đây Nam Quan, nơi tướng quân họ Lý
Đuổi quân thù để cứu lấy giang san.
Đây Nam Quan, nơi quân Nguyên rời biển máu
Thoát rừng gươm tơi tả kéo nhau về.
Say chiến công tướng nhà Trần lảo đảo,
Nắng chiều hôm lay động ánh gươm thề.
Màu thời gian phất phơ làn khói biếc
Bóng người xưa lồng lộng tít trời cao.
Đến bây giờ Thăng Long nằm đợi chết;
Đau lòng ta tiếng gọi dưới trăng thanh.
Nước phá, nhà tan, muôn dân u uất.
Biết bao giờ lau sạch máu trên đầu.
Mấy cha con như sao thần vụt tắt,
Đường xa xuôi, huyết lệ chảy về đâu?
Nguyễn Trãi:
Góc Trời Nam ánh sao thần vụt tắt,
Thành Thăng Long nghi ngút chuyện thuong đau!
Phụ thân ôi, chiến bào đầy nước mắt.
Biết bao giờ lau sạch máu trên đầu
Phi Khanh:
Ai ?
Nguyễn Trãi:
Thưa phụ thân, con đây, Nguyễn Trãi.
Phi Khanh:
Kía! Đêm khua sao lại đến tìm cha?
Nguyễn
Đêm gió lạnh quân canh vì trể nải
Để chim bằng thoát khỏi sẽ bay xa.
Phi Khanh
Còn hai anh?
Nguyễn Trãi:
Chắc còn nằm trong Ải,
Đợi quân thù đưa lối đến Kim Lăng.
Riêng mình con đã thoát vòng cuồng khấu,
Lượng trời cao mở rộng cánh chim bằng,
Nghe rừng khuya xạc xào lên tiếng nói:
Trong đêm mờ rẽ cỏ con tìm đi.
Trên ngàn xa tiếng tiêu như nhắn gọi,
Như vỗ về như thúc dục chí nam nhi
Ôi ! réo rắc là linh hồn cố quốc,
Ôi ! thê lương là mối hận suy vong.
Trăng tàn úa theo nhạc sầu đất nước,
Bốn phương trời than khóc với non sông.
Vừa qua đây hồn Nam Quan khắc khoải,
Con lắng nghe u uất tấm lòng cha.
Con muốn đi nhưng có gì giữ lại,
Con muốn về nhưng không dám rời xa.
Phi Khanh
Ôi sung sướng !
Trời thương ta nên vạch sẵn con đường.
Về đi thôi, quân Minh phòng các ngã
Cố làm sao về thấu được quê hương.
Nguyễn Trãi:
Phụ thân ôi! Đây con dường định mệnh
Nữa chừng khuya rền rĩ tiếng u hoài
Hồn quê hương quá thương nên gãy gánh
Minh mông sấu là cỏi thế chông gai.
Phi Khanh:
Trãi con ơi, con về đi,
Con về đi cha yên tâm chịu khổ
Con về đi rửa nhục cho giang sơn.
Nếu trời muốn cho nước ta tiêu diệt
Thì gươm thù sẽ úp xuống đầu son.
Con về đi…
Nguyễn Trãi:
Thưa cha, đau dớn lắm
Nổi chia lìa tê buốt bòng trăng sao
Như thân con có quản gì bụi lấm
Xin theo hầu thần phụ đến Trung Hoa
Để một mai cùng cha cùng biết chết
Cùng hai anh chia sẽ nổi u hoài.
Phi Khanh:
A! Nguyễn Trãi!
Hãy dẹp tình thảm thiết
Trông đàng sau xuong máu ngập giang sơn
Con phải nhớ, con là dòng tuấn kiệt
Trong người con cuồn cuộc máu anh hùng.
Máu anh hùng trôi đi mà rửa nhục
Con về đi.
Nguyễn Trãi:
Con xin cha !
Cho con theo bóng áo
Cùng ôm nhau cùng chết dưới gươm thù
Không tận trung thôi đành con tận hiếu
Kiếp nầy mong khỏi thẹn với ngàn thu
Phi Khanh:
Không thể được
Định sang Tàu chết nhục
Làm con ma uất hận giữa quê người
Con hèn quá, con làm cho cha phải tủi nhục
Thôi mong gì báo đáp một ngày mai.
Giống Đại Việt không bao giờ hèn yếu
Tự nghìn xưa ngẩn mặt lên trời cao
Ôi kiêu hảnh là những trang niên thiếu
Tự ngàn xưa không nhụt chí anh hào
Gái cùng trai trên giang sơn gấm vóc
Đã thêu bằng huyết lệ bằng gươm đao
Những trang sử đẹp như vàng với ngọc
Bóng muôn đời không thẹn với trăng sao.
Con là trai mà không bằng nhi nữ,
Cha sinh con hổ thẹn với trời xanh
Mong chết uổng chỉ là loài úy tử
Sống bẻ bàng thêm tủi mặt tài danh.
Người trượng phu nên tìm đường mà chết
Chết làm sao mà danh dậy khắp ngàn thu
Chết làm sao mà kẻ thù tiêu diệt
Chết làm sao mà vạn thuở nhớ thương.
Kía cái chết bậc anh thư ngày trước,
Muôn ngàn năm quốc sử ngát trầm hương.
Con hãy trả xong thù nhà nợ nước,
Muốn theo cha thì chết trên trên sa trường.
Nguyễn Trãi:
Ôi bóng quê hương ngã nắng chiều
Những mùa thu củ gợi thương yêu
Mái tranh xơ xác thềm trăng lạnh
Sân mốc thềm tan bóng tịch liêu
Tre xanh san sát chuyện gươm đao
Đứng rủ tà huy nhuốm máu đào
Thép rủ buồn tanh lời sắc đá
Gươm vàng tựa nguyệt giấc chiêm bao.
Chí khí phai dần theo huyết lệ
Như làn tơ nhạt nếp thời gian.
Bao giờ dứt lệ quên đau khổ
Tung kiếm ngàn thu diệt bạo thù.
Phi Khanh:
Trải con!
Chớ bi quan thảm thiết
Con phải biết,
Cha sinh con là sinh sức mạnh
Cha nuôi con là hy vọng về sau
Đến ngày nay giữa đường cha đứt gánh
Thì con ội! Tung kiếm cho quên sầu.
Trãi con ơi! Tương lai đầy ánh sáng…!!!
Cha đứng đây trông suốt cả ngàn sau…
Nguyễn Trãi:
Cha nói đến tương lai đầy ánh sáng
Khiến cho lòng con bừng tỉnh một cơn mê!
Con xin về mài gươm chờ báo phục.
Phi Khanh:
Cha mĩn cười nhắm mắt bên Trung Hoa.
Nguyễn Trãi:
Đêm Nam Quan là con dao hai lưỡi
Trích lòng con thành một vết thương sâu:
Trông về Bắc thì xót thương dòng máu
Ngó vể Nam thì tan nát giá hương
Càng thảm khốc, càng bền gan chiến đấu
Bụi hồng bay quay tít một thanh gươm.
Giống nòi ấy nghe thời oanh liệt củ,
Sẽ bùng lên như trận gió điên cuồng.
Hởi quân Minh sao không nhìn lịch sử ?
Mà vội vàng ngạo nghễ xuống Nam phương
Hảy nhìn đấy mà nếm mùi thất bại !
Tàn ác đi rồi trả nợ về sau !
Hãy chờ đấy trông sao thần sáng chói !
Trong trần ai, ai dễ biết ai đâu !
Cha ! Cha !
Cha cầu nguyện cho con tròn sứ mệnh
Bại hay thành là theo lệnh Hoàng Thiên.
Một ngày mai, con tung gươm cất cánh
Trời quê hương sáng rực nhửng đêm thiêng
Một ngày mai khi Trãi nầy khởi nghĩa
Kéo cở lên phất phới linh hồn cha.
Gạt nước mắt, con nguyện cùng Thiên địa
Một ngày mai con lấy lại Sơn Hà.
Phi Khanh:
Ôi sung sướng!
Trời sao chưa nở tắt
Về ngay đi,
Ghi nhớ Hận Nam Quan
Kìa con trông
Nắng tỏa trên đồi non
Nguyễn Trãi:
Đã đến giờ con lìa xa Quan Ai
Kể từ đây Nam Bắc cách đôi nơi
Phi Khanh:
Kíà con trông nắng chiếu chân trời xa
Nguyễn Trãi:
Chân trời xa nắng phơi màu hy vọng
Con biết rồi bóng dáng của người xưa,
Con hiểu rồi linh hồn cha cao trọng
Sẽ bay về theo lớp gió mây đưa.
Phi Khanh:
Về đi thôi,
Trải
Về di thôi
Nắng đã trãi trên cành non.
Nguyễn Trãi:
Quỳ lạy cha
Cha lên đường ảm đam
Rời Nam Quan theo gió con bay về.
Hoàng Cầm

