Trường Sa! Trường Sa! Đảo Chuếnh Choáng! Nguyễn Xuân Nghĩa
...
LỊCH SỬ NGÀN NĂM
Mối bất hoà của dân ta là một sự cám dỗ lớn…
Hơn
10 thế kỷ trước (1070 năm), năm 939 Việt Nam giành lại nền tự chủ từ
Trung Hoa sau ngàn năm Bắc thuộc là khi nước Tầu có loạn, bị phân hoá
trong thời Ngũ đại Thập quốc (907-960). Từ đấy bài học nằm lòng của dân
Việt là tinh thần thống nhất dân tộc - các sắc tộc và địa phương - là
điều kiện cần thiết để tiến tới sự hình thành của quốc gia. Hoặc biến
báo hơn, khi Trung Hoa có loạn là dân ta dễ thở. Khi Trung Hoa thống
nhất thì ta nên biết… cư an tư nguy. Khi dân ta chia rẽ, mối nguy tất sẽ
hiển hiện.
Bài học ấy, tiền nhân đã thuộc.
Vì vậy mà mục tiêu
của các hội nghị Bình Than (1282) và Diên Hồng (1284) thời kháng chiến
chống Nguyên Mông chính là để vận động sự thống nhất quan điểm và ý chí
của các tầng lớp lãnh đạo (Bình Than) và các địa phương (Diên Hồng) hầu
chuẩn bị từng bước tiến thoái, và nhất là chiến lược du kích, cho cuộc
tổng phản công sau này. Thiếu sự thống nhất ấy, vua quan triều Trần mà
rút tới đâu thì bị phục kích tới đó. Và thiếu sự đồng lòng của dân ta
thì cuộc xâm lăng lần thứ hai của nhà Nguyên đã… vẽ lại bản đồ Việt Nam.
Trong
thế kỷ 20, Việt Nam lại quên bài học cũ mà mở ra cuộc tương tàn khi thế
giới đã quốc tế hoá, với sự can thiệp của đủ màu ngoại bang vì rất
nhiều động lực gần xa.
Đảng Cộng sản Việt Nam có tội lớn trong tai
họa ấy khi đoàn kết với các đồng chí ở xa mà chém ngược vào ruột gan
đồng bào ở nhà.
Các nhà thơ thường hay nói thật mà mình tưởng họ ngủ
mơ. Khi Chế Lan Viên làm thơ về nỗ lực đấu tranh của "ta" để làm đẹp
lòng Bắc Kinh, những người ít biết về thơ lại không hiểu gì về bản tuyên
ngôn của đảng hàm chứa bên dưới lời thơ. Biến cố Mậu Thân 1968 là một
đỉnh quang vinh của đảng, nằm trên núi xương sống máu của người Việt
trong Nam, và báo hiệu trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974.
Năm đó, Hoa
Kỳ hết cần "tiền đồn thế giới tự do" và khoanh tay nhìn Trung Quốc đi
xuống các quần đảo mà Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ, Đô đốc Elmo Zumwalt,
cho là "không có giá trị chiến lược". Thời ấy, có thể là ông chưa nhìn
ra trữ lượng 25 tỷ thước khối khí đốt và cả trăm tỷ tấn dầu thô ở bên
dưới, hay vì cả tin vào Đệ thất Hạm đội để bảo vệ tự do vận chuyển qua
eo biển Malacca!
Nhưng ở vào cảnh thất thế, Quân lực Việt Nam Cộng
Hoà vẫn chiến đấu anh dũng để bảo vệ Hoàng Sa trước sự thụ động - và còn
cung cấp thông tin sai lạc - của Hoa Kỳ. Và sự lặng thinh không một
chút ngượng ngập của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà!
Việt Nam mất Hoàng Sa từ đó.
Sau
khi được thống nhất về chính trị dưới chế độ Cộng sản, Việt Nam tiếp
tục mất nhiều lãnh thổ và lãnh hải khác. Cho tới ngày nay.
Thực ra,
ngay từ đầu, đảng Cộng sản đã chọn con đường ấy khi nương tựa vào - và
đổi chác quyền lợi với - Bắc Kinh. Từ khi Tướng Trần Canh đội mũ chiến
tướng cho Võ Nguyên Giáp tại trận Điện biên phủ cho tới khi hai vạn cán
bộ binh lính Trung Quốc bảo vệ hậu cứ Bắc Việt để Hà Nội mở cuộc chiến
vào Nam. Ai còn trông mong Võ đại tướng lên tiếng đòi lại Hoàng Sa
Trường Sa là mắc bệnh mộng du. Hoặc quên trí nhớ.
Ngay từ đầu, Hà
Nội đã thủ vai phiên thuộc, từ lá thư nhục nhã của Phạm Văn Đồng năm
1958 khi Bắc Kinh đòi chủ quyền ngay tại ngoài Đông hải của Việt Nam,
cho tới sự chống đỡ yếu ớt năm 1988 khi Trường Sa bị thôn tính. Từ việc
tương nhượng Trung Quốc sau năm 1990 cho đến khi kiểm soát phản ứng của
dân chúng ngày nay trước quyết định hành chánh của Bắc Kinh về việc
"quản lý" hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Cái mà đảng Cộng sản được là cái mà quốc gia bị mất.
Nói cho rõ hơn, đảng còn thì nước mất mà đảng mất thì nước vẫn còn. Quy luật ấy sẽ sáng tỏ trong năm Tý.
"NGŨ PHỤNG TỀ PHI" TRÊN LÁ HỒNG KỲ
Sao vàng của đảng sẽ nhập vào Ngũ tinh Hồng kỳ của Trung Quốc
Năm
1949, Cộng sản Trung Quốc chuẩn bị thống nhất Hoa lục dưới sự lãnh đạo
của đảng, và chọn quốc kỳ là lá cờ năm sao gọi là "Ngũ tinh Hồng ky"ø,
lần đầu tiên được Mao kéo lên vào tháng 10 năm đó. Ngôi sao chính, như
vầng Bắc đẩu, là biểu tượng của đảng. Bốn ngôi chầu quanh là của các
giai cấp công, nông, tiểu tư sản và tư sản dân tộc!
Đó là lý luận chính thức của họ khi tiến hành chiến tranh và cách mạng vô sản.
Lý
luận đấu tranh giai cấp ấy nay đã lỗi thời và bị xoá mờ trong Hiến
pháp. Ngày nay, họ trở lại chủ thuyết truyền thống của nền văn hóa duy
chủng: Hán tộc tất nhiên giữ ngôi Bắc đẩu, bốn phương đều chầu về đó.
Bốn phương ấy là các tộc Mông, Mãn, Hồi, Tạng.
Có điều, nhìn vào lịch sử Trung Hoa thì đấy là một tất yếu lịch sử hơi yếu!
Trong
lịch sử Trung Hoa, nhiều sắc dân thiểu số đã vào Trung Nguyên làm chủ
Trung Quốc. Con cháu Thành cát Tư hãn tiêu diệt nhà Tống mà lập ra nhà
Nguyên. Trước đó, nhà Kim đã khống chế phân nửa miền Bắc của Trung Quốc.
Sau đó, hậu duệ của người Kim, thuộc tộc Nữ Chân, là người Mãn Châu, đã
tiêu diệt nhà Minh để lập ra nhà Mãn Thanh, và tồn tại từ 1644 đến
1911. Trong lịch sử Trung Hoa, không thiếu gì công chúa đã được gả cho
Thuyền vu hay Thổ tù và cả Quốc vương Tây Tạng, để mua lấy hoà bình cho
Thiên tử! Văn minh Trung Hoa xuất phát từ nét văn hoá sợ sệt, lại ưa
khoác lác, khinh người.
Trong lịch sử Việt Nam, Thái úy Lý Thường
Kiệt đã dẫn binh đội nhà Lý tấn công thẳng vào lãnh thổ Trung Quốc, làm
"Nội các" Vương An Thạch bị đổ, và nhà Tống phải nghiên cứu về tổ chức
binh bị của nước Nam. Cũng trong thời đại ấy, viên thổ tù Nùng Trí Cao
được triều Lý của ta dung tha lại gây "chấn động kinh sư" khiến Đại
tướng Địch Thanh nhà Tống phải nhọc lòng đối phó.
Cho nên, bảo rằng Hán tộc đương nhiên lãnh đạo "thiên hạ" gồm có các sắc tộc khác chỉ là phản ứng tự mê.
Ngược
lại, chính là vì kinh nghiệm lịch sử mà lãnh đạo Trung Quốc thường có
phản ứng phòng thủ. Họ khuynh đảo hay mua chuộc các sắc tộc khác ở vòng
phiên trấn nhằm lập ra vùng trái độn nhằm bảo vệ Trung Nguyên.
Suốt
mấy ngàn năm lịch sử, các sắc tộc bị biến thành chư hầu đều chỉ là phên
giậu của Trung Hoa trong lục địa. Nhưng thế giới ngày nay đã đổi khác vì
các đại dương bị thu hẹp trong thế toàn cầu hoá. Quay đầu vào núi và
núp dưới Vạn lý Trường thành thì không có đủ nguyên nhiên vật liệu nuôi
sống hơn một tỷ ba trăm triệu dân.
Vì vậy, qua thế kỷ 21, Trung Quốc
chuẩn bị bước ra với tư thế đại cường hải dương thay vì chỉ là cường
quốc lục địa như trong lịch sử. Từ cả chục năm nay, đảng Cộng sản Trung
Quốc chuẩn bị việc đó và cải cách kinh tế cũng trong mục tiêu đó, để có
hải đội tiến ra biển xanh. Đây là nhu cầu sinh tử của họ khi chuyển theo
kinh tế thị trường và cần nhiều nguồn tiếp vận từ bên ngoài lục địa.
Khi bước xuống biển nóng tìm dầu và khống chế luồng vận chuyển ngoài biển Thái bình, lần này họ có một bậc thềm là… Hà Nội.
Và
họ có đám chư hầu canh cửa là lãnh đạo Cộng sản Việt Nam. Chẳng vậy mà
ngần ấy bước tiến xuống Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, Bản Giốc đều có
sự mặc nhiên tiếp sức hoặc e dè lên tiếng làm vì của Hà Nội.
Nếu dân
Việt không làm gì thì trong một tương lai không xa, ngôi sao vàng trên
lá cờ đỏ của Việt Nam ngày nay cũng sẽ biến. Vì bay vào quốc kỳ Trung
Quốc thành ngôi sao của chư hầu thứ năm. Mông, Mãn, Hồi, Tạng, Việt sẽ
là "ngũ phụng tề phi" - với màu sắc Trung Hoa.
Đảng Cộng sản Việt
Nam có tham vọng làm thay đổi bộ mặt của đất nước. Ít ai ngờ là lại thay
đổi theo hướng đó. Một sự ô nhục có kích thước lịch sử, và có ý nghĩa
sinh tử cho Việt tộc. Vì từ đó về sau, mọi quyết định của Việt Nam đều
phải có sự thẩm xét tiên khởi của Bắc Kinh. Cho nên, thế kỷ 21 khởi đầu
cho sự hình thành của chế độ phụ dung tại Việt Nam.
Nghĩa là đi
ngược quy luật tiến hoá của nhân loại - và của lịch sử dân tộc. Chỉ vì
hội chứng phiên thuộc của những người lãnh đạo Hà Nội. Những đảng viên
Cộng sản đã mê đắm và hy sinh vì lý tưởng độc lập dân tộc, và cả quân
đội giải phóng nữa, phải nghĩ sao về não trạng chư hầu này?
NHỮNG BÀI HỌC KHÓ QUÊN
Thắng thì quên, thua phải nhớ
Có một quy luật ít ai để ý tới là kẻ bại trận mới rút tỉa kinh nghiệm của chiến tranh.
Phe
chiến thắng ca khúc khải hoàn xong là lập tức viết lại lịch sử để mạ
vàng chiến công của mình - mà quên hẳn những sai lầm đã có trong cuộc
chiến. Mọi sai lầm đều được phép quên, vì người người lo việc chia nhau
chiến lợi phẩm.
Ngược lại, phe thua trận mới thấy đau buồn và nghĩ
ngợi mãi về lý do thất trận. Trong hoàn cảnh bị biến làm nô lệ - hay bị
tập trung cải tạo - họ càng nghiền ngẫm mọi khía cạnh của cuộc chiến để
tìm ra lý do hay quy luật giải thích lẽ thắng bại ấy. Cho nên, quy luật
"thắng thì quên - thua phải nhớ" chi phối sự suy tư chúng ta nhiều hơn
là mình nghĩ.
Hà Nội còn giữ vết đạn quân Pháp bắn vào cửa Bắc Thăng
Long năm xưa, một dấu tích đầu tiên của thất trận và "Hoà ước" Giáp Thân
1844. Nhưng sau chiến thắng tại miền Nam, thì khu cửa Bắc của thủ đô đã
thành đặc khu kinh tế của các tướng lãnh - chiến lợi phẩm của kẻ chiến
thắng. Chiến lợi phẩm ở trong Nam thì… Hằng hà sa số, điểm không kể
xiết.
Trong khi ấy, người chiến binh Cộng Hoà của miền Nam lại trăn
trở không ít với lẽ thắng bại và có thể… dạy lại Hà Nội về cách ứng xử
với Hoa Kỳ và về mối nguy Trung Quốc. Và dạy lại Hà Nội về đạo lý dân
tộc bằng cách nhắc lại trận Hoàng Sa ngày 19 tháng Giêng năm 1974, khi
Quân lực Việt Nam Cộng Hoà đơn độc bảo vệ tuyến đầu của vành đai Hoàng
Sa Trường Sa.
Những người Việt thời nay cần nhớ lại là khi đã thế
cùng lực kiệt, chỉ 15 tháng trước khi bị bức tử, Quân lực miền Nam đã có
những quyết định không làm hổ danh Hoàng Diệu hay Nguyễn Tri Phương: bị
nạn trong trận đánh, chiến hạm Nhật Tảo được lệnh là phải đâm vào bờ
Hoàng Sa. Dù có chết thì cũng để lại chứng tích của người Việt trên đảo.
Dù có ngã, vẫn phải ngã về phía trước!
Tinh thần ấy không làm chúng ta bật khóc hay sao?
Nhiều
kẻ vẫn chê người lính chiến miền Nam là cứ gậm nhấm mãi nỗi buồn thất
trận năm 1975. Họ không hiểu quy luật tâm lý của con người, một phần
quan trọng của nhiều quy luật lịch sử. Cho nên cũng không hiểu vì sao
một người như Nguyễn Nhã tại miền Nam lại dày công nghiên cứu về Hoàng
Sa và Trường Sa sau khi góp phần gây dựng Tập san Sử Địa tại Sàigòn, một
nguồn tài liệu phong phú làm miền Nam hãnh diện ngay trong thời chiến
và tới thời nay.
Ngoài "Hội chứng Bắc thuộc" của lãnh đạo Hà Nội,
việc ông Nguyễn Nhã trình luận án Tiến sĩ ở trong Nam về Hoàng Sa cho
thấy chiều sâu của người dân miền Nam, ở trong và ngoài đảng Cộng sản,
khi nằm ở phe thất trận hay thất thế. Cũng nhờ đấy mà dân ta thu thập
được nhiều tài liệu lịch sử chứng minh chủ quyền của người Việt trên các
quần đảo đang có tranh chấp với Trung Quốc.
Ở bên ngoài, ông Vũ Hữu San cũng là trường hợp đáng chú ý.
Ông
là một trong bốn hạm trưởng của trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974 và nay
là học giả có uy tín về nền văn minh hải dương và chủ quyền ngoài biển
của Việt Nam. Trong cộng đồng những người thất trận và bị khinh miệt,
ông đã giành mấy thập niên nghiên cứu và phổ biến các dữ kiện liên hệ
đến chủ quyền của Việt Nam cho công luận cùng biết.
Những người ấy -
và còn biết bao người khác - đã rút tỉa bài học đích thực của chiến
tranh Việt Nam. Họ không ngoái nhìn về quá khứ hay nghĩ chuyện đỉnh
chung mà nhìn vào quyền lợi của dân tộc từ ngàn xưa tới ngàn sau. Họ
không là thần dân phục vụ bất cứ chính quyền nào mà miệt mài nghiên cứu
và quảng bá những điều có lợi cho dân tộc Việt Nam.
Trước đấy hơn
nửa thế kỷ, cách đây đúng 70 năm, Hoàng Đạo của Tự lực Văn đoàn cũng đã
tiên báo về cái thế thắng bại trong chuyện phân tranh chủ quyền Hoàng Sa
và Trường Sa với Trung Quốc. Ông thuộc phe "thua trận" trong mặt trận
đoàn kết quốc cộng, và mất cách đây đúng 60 chục năm. Nhưng lời nhắn nhủ
của ông còn vang vọng. Hà Nội không biết ngẫm lời cảnh báo của ông, có
khi còn can dự vào cái chết bất ngờ của tay lý luận cự phách nhất của Tự
lực Văn đoàn và Việt Nam Quốc dân đảng!
Vốn tự khoe là nắm vững quy luật lịch sử, lãnh đạo Hà Nội nghĩ sao về quy luật "đảng thắng thì nước thua"?
TRẬN CHIẾN "BẤM CHUỘT" TRONG NĂM TÝ
Tuổi trẻ trong một hình thái đấu tranh chưa từng có
Xưa
nay, từ thời Bắc thuộc, rồi thời độc lập và dựng nước cho tới thời Pháp
thuộc, thành phần ưu tú của xã hội ta chỉ sống và nhìn thấy không gian
hai chiều Nam-Bắc. Làm gì thì họ cũng rập khuôn theo đạo Thánh hiền
phương Bắc. Nếu có khẳng định tinh thần độc lập thì cũng vẫn là sự khẳng
định căn cứ trên các khái niệm Trung Hoa.
Thế rồi, 150 năm trước,
khi Pháp tông cửa bước vào nước Nam, từ miền Nam rồi lên miền Bắc, dân
ta khám phá ra không gian… ba chiều. Ngoài quan hệ Nam-Bắc, Việt-Hoa,
hình như còn có mối quan hệ khác nữa. Với Pháp, với Nhật…
Sinh sau mà
đi trước nhiều người, kể cả hai cụ Phan Sào Nam và Phan Tây Hồ, có Hồ
Chí Minh đã được dạy dỗ để nhìn ra không gian quốc tế của cục diện Việt
Nam. Nhưng nhìn với con mắt nô lệ và tâm địa bầy tôi, thua xa các lãnh
tụ cách mạng kia. Nhìn ra khía cạnh quốc tế của vấn đề Việt Nam, Hồ Chí
Minh đã để quốc tế vận dụng Việt Nam. Cả cuộc đời của ông ta là một
chuỗi dài đổi chác vì quyền bính.
Cái mà ông Hồ được thì nước ta
mất. Mất tinh thần đoàn kết dân tộc vì Liên minh Quốc Cộng là hài kịch
phản trắc. Mất tinh thần tự chủ vì làm gì cũng phải nghĩ trước xem có
hợp với quy luật Mác-Lenin không. Nghĩ trật nói sai là đội mũ "xét lại
chống đảng" và vào ngục. Không nên ngạc nhiên là từ dưới chân họ Hồ có
Phạm Văn Đồng ký giấy công nhận chủ quyền phương Bắc trên lãnh thổ nước
Nam…
Nhưng địa cầu vẫn quay và thế giới tiếp tục đổi thay. Trong khi
đảng Cộng sản Việt Nam tự đóng khung trong không gian hai chiều - như
loài giun trong lòng đất chỉ biết có hai hướng tiến lùi trên cùng một
trục - người Việt Nam đã thấy ra nhiều không gian khác, trong những
chiều kích khác.
Điển hình nhất là không gian điện toán, cyberspace!
Trong
trận đánh Hoa-Việt ngày nay, đã đành là tướng lãnh Hà Nội thúc thủ và
bộ đội ngẩn ngơ chưa biết tính sao, mà lãnh đạo thì cương quyết cầu hoà.
Họ có thể mưu mô giật dây cho dân biểu tình làm phép, để dễ bề mặc cả
"trong vòng lễ giáo" với Bắc Kinh. Nhưng bên dưới, bên ngoài, và khắp
nơi trên thế giới, người Việt không chịu làm con rối mà muốn làm cho ra
lẽ.
Những người biểu tình không có khí giới, tổ chức hay phương tiện
dồi dào như đảng. Họ chỉ có tấm lòng và vận dụng một phương tiện mà các
thế hệ trước không có: thông tin điện toán và các blog trao đổi ý kiến
trên không gian điện toán. Họ thông báo và huy động nhau ở trên đó, để
xuất hiện ở ngoài đời như một lực lượng tự phát mà cái cùm, cái còng hay
cái roi điện không thể xử lý hết.
Họ đang làm lại lịch sử, theo một hình thái chưa từng có tại Việt Nam.
Cho
tới ngày nay, đa số người dân trong nước chưa biết gì về cái tội bán
nước và gắn sao của đảng Cộng sản Việt Nam cho hậu phương Bắc Kinh của
đảng. Nhưng giới trẻ Việt Nam đã biết - và không chịu im. Họ tiến lên
không gian điện toán để nhoài mình ra ngoài và bắt liên lạc với nhau.
Họ
đang thấy rằng sở dĩ Bắc Kinh có quyền ngang ngược chính là vì đảng nhu
nhược. Bao nhiêu lần ngư phủ của ta bị sát hại, bắt giữ mà đảng không
dám làm gì. Bây giờ mới lật ngửa lá bài bán nước! Không gian của giới
trẻ ngày nayï chẳng còn là hai chiều giữa dân vớiø đảng, giữa Nam với
Bắc, trong và ngoài, Hà Nội với Bắc Kinh. Mà là không gian đa diện, toàn
phương vị, từ khắp nơi liên lạc với khắp nơi - bằng tốc độ điện tử.
Thời
xưa, tại hội nghị Bình Than, lãnh đạo nhà Trần kịp nhìn ta một Trần
Quốc Toản vì họ có cái tâm cho đất nước. Ngày nay, cái tâm đó không hề
có trong lãnh đạo đảng, nhưng các Trần Quốc Toản đã xuất hiện khắp nơi.
Họ không bấm vào quả cam trong nỗi bất lực của tuổi trẻ khi Tổ quốc nguy
khốn. Họ bấm vào con chuột điện toán.
Ta đang chứng kiến một hiện tượng mới.
Hàng
ngày, biết bao quyết định hệ trọng của loài người văn minh đã thành
hình từ một động tác rất thường, rất nhỏ. Là bấm vào con chuột điện
toán. Trong năm Hợi, đảng Cộng sản Việt Nam tìm cách ngăn cản giới trẻ
lên tiếng và lên đường để tranh đấu cho chủ quyền lãnh thổ. Qua năm Tý,
đảng sẽ lâm vào trận chiến với chuột. Một cái bấm là mấy trăm người đều
nhận được thông tin, và tiếp tục bấm cho mấy trăm người khác…
Tất nhiên là đảng tìm cách kiểm soát và ngăn chặn. Nhưng sẽ ăn nói ra sao với Intel, hay Cisco?
Kết
quả trận đánh trên không gian đa phương của điện toán không thể là sự
tái diễn của nạn bán nước để cứu đảng. Đó là lời chúc của năm Mậu Tý!
(Bài
này được viết cho Giai phẩm Xuân Mậu Tý của Việt Báo, xuất bản đầu năm
2008 tại miền Nam California, xin nhớ lại chuyện mới trong một tờ báo
xuân cũ.... NXN)

